Kaga (tàu sân bay Nhật)

Kaga Field Manual FM 30-58.jpg
Tàu sân bay "Kaga", ảnh chụp bởi Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt tên theo: tỉnh Kaga
Hãng đóng tàu: Kawasaki Heavy Industries, Kobe
Đặt lườn: 19 tháng 7 năm 1920
Hạ thủy: 17 tháng 11 năm 1921
Hoạt động: 1 tháng 11 năm 1929
Xóa đăng bạ: 10 tháng 8 năm 1942
Số phận: Thiệt hại bởi máy bay Mỹ trong trận chiến Midway ngày 4 tháng 6 năm 1942; đánh đắm sau khi bỏ tàu
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay riêng lẽ
Trọng tải choán nước: 38.200 tấn (tiêu chuẩn) (sau khi tái cấu trúc)
Độ dài: 247,6 m (812 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 32,5 m (106 ft 7 in)
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine Brown-Curtis
8 × nồi hơi Kanpon
4 × trục,
công suất 93,7 MW (127.400 mã lực)
Tốc độ: 52,8 km/h (28,5 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.708 (sau khi tái cấu trúc)
Vũ trang: 10 × pháo 200 mm (8 inch) (10×1)
16 × pháo 120 mm (4,7 inch)
22 × pháo phòng không 25 mm
Máy bay mang theo: 72(+18): 18 × Zero, 27 × Val,
27 × Kate (tháng 12 năm 1941)

Kaga (tiếng Nhật: 加賀, Gia Hạ) là một tàu sân bay của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; là chiếc tàu sân bay thứ ba của Hải quân Nhật được đưa vào hoạt động, với tên được đặt theo tỉnh Kaga cũ trước đây, nay thuộc tỉnh Ishikawa. Thoạt tiên được dự định như một trong hai thiết giáp hạm nhanh thuộc lớp Tosa, Kaga được cải biến thành một tàu sân bay theo những điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington để thay thế cho chiếc tàu chiến-tuần dương Amagi vốn đã bị hư hại trong trận động đất Kantō 1923 (Quan Đông đại chấn tai). Kaga được tái cấu trúc vào những năm 19331935 nhằm gia tăng tốc độ, cải tiến hệ thống thoát khí và nâng cấp sàn cất-hạ cánh để mang được những máy bay hiện đại lớn và nặng hơn.

Kaga có vai trò nổi bật trong việc phát triển học thuyết lực lượng tấn công tàu sân bay của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, trong đó tập hợp các tàu sân bay lại để có một sức mạnh không lực tập trung. Là một khái niệm chiến lược mang tính cách mạng vào lúc đó, việc triển khai học thuyết này đã giúp Nhật Bản đạt được những mục tiêu chiến lược trong sáu tháng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.

Máy bay của Kaga thoạt tiên đã hỗ trợ cho lực lượng Nhật Bản tại Trung Quốc trong Sự kiện Thượng Hải năm 1932, rồi tham gia cuộc Chiến tranh Trung-Nhật vào cuối những năm 1930. Cùng các tàu sân bay khác, nó tham gia vào cuộc tấn công Trân Châu Cảng vào tháng 12 năm 1941chiếm đóng Rabaul ở khu vực Tây Nam Thái Bình Dương vào tháng 1 năm 1942. Sang tháng tiếp theo, máy bay của nó đã ném bom Darwin thuộc Australia giúp hỗ trợ cho việc chiếm đóng Đông Ấn thuộc Hà Lan. Kaga lỡ mất cuộc Không kích Ấn Độ Dương vào tháng 4 vì phải quay về Nhật Bản sửa chữa những hư hại do tai nạn va phải một rặng san hô vào tháng 2 trước đó.

Sau khi sửa chữa xong, Kaga gia nhập trở lại Không hạm đội 1 để tham gia trận Midway vào tháng 6 năm 1942. Sau khi ném bom xuống lực lượng Hoa Kỳ trú đóng trên đảo san hô, Kaga cùng với ba tàu sân bay khác bị máy bay xuất phát từ Midway và từ các tàu sân bay Enterprise, HornetYorktown tấn công. Máy bay ném bom bổ nhào của Enterprise đã gây hư hại nặng cho Kaga. Khi đã trở nên rõ ràng là không thể giữ được, nó bị các tàu khu trục Nhật Bản đánh đắm để không bị lọt vào tay đối phương. Việc bị mất bốn tàu sân bay hạm đội trong đó có Kaga tại Midway là một thất bại chiến lược nghiêm trọng cho phía Nhật Bản, góp phần đáng kể cho chiến thắng sau cùng của phe Đồng Minh tại Thái Bình Dương. Đến năm 1999, những mảnh vỡ của Kaga được tìm thấy dưới đáy biển, nhưng bản thân xác con tàu đắm vẫn chưa được phát hiện.

Mô tả

Thiết kế và chế tạo

Kaga được đặt lườn như một trong số hai thiết giáp hạm nhanh thuộc lớp Tosa, và được hạ thủy vào ngày 17 tháng 11 năm 1921 tại xưởng đóng tàu của hãng Kawasaki Heavy IndustriesKobe. Đến ngày 5 tháng 2 năm 1922, trong khi chờ đợi hoàn thiện, cả hai chiếc thiết giáp hạm lớp Tosa bị hủy bỏ và được chỉ định cho tháo dỡ theo những điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington.[1][2]

Tuy nhiên, Hiệp ước cho phép cải biến lườn của hai thiết giáp hạm hay tàu chiến-tuần dương với trọng lượng choán nước tiêu chuẩn cho đến 33.000 tấn Anh (34.000 t) trở thành tàu sân bay. Ban đầu, hai chiếc AmagiAkagi chưa hoàn tất thuộc lớp tàu chiến-tuần dương Amagi được chọn để hoán cải, nhưng trận động đất Kantō (Quan Đông đại chấn tai) ngày 1 tháng 9 năm 1923 đã phá hủy sườn chiếc Amagi đến mức không thể sửa chữa một cách kinh tế, vì vậy Kaga được chọn để thay thế. Quyết định chính thức cải biến Kaga thành tàu sân bay được công bố vào ngày 13 tháng 12 năm 1923, nhưng công việc đã không tiến hành cho đến năm 1925, sau khi bản vẽ mới được thảo ra cũng như những hư hại của Xưởng hải quân Yokosuka do động đất được sửa chữa. Nó được chính thức đưa ra hoạt động vào ngày 31 tháng 3 năm 1928, nhưng chỉ có ý nghĩa bắt đầu công việc chạy thử máy. Nó gia nhập Hạm đội Liên hợp (Rengo kantai) vào ngày 30 tháng 11 năm 1929 như là chiếc tàu sân bay thứ ba của Hải quân Nhật, sau các chiếc chiếc Hōshō (1922) và Akagi (1927).[3]

Kaga được hoàn tất với chiều dài chung 238,5 mét (782 ft 6 in). Nó có mạn thuyền rộng 31,67 mét (103 ft 11 in) và độ sâu mớn nước 7,92 mét (26 ft 0 in) khi đầy tải. Con tàu có trọng lượng choán nước 26.900 tấn Anh (27.300 t) ở tải trọng tiêu chuẩn và 33.693 tấn Anh (34.234 t) khi đầy tải, nhẹ hơn gần 6.000 tấn Anh (6.100 t) so với trọng lượng thiết kế như một thiết giáp hạm.[4] Thủy thủ đoàn đầy đủ của nó gồm 1.340 thành viên.[5]

Sự bố trí sàn cất-hạ cánh

Kaga khi hoàn tất, cho thấy rõ cả ba sàn cất-hạ cánh

Giống như Akagi, Kaga được hoàn tất với ba sàn cất-hạ cánh xếp thượng tầng, là những tàu sân bay duy nhất trên thế giới được thiết kế như vậy. Các tàu sân bay Anh Quốc Glorious, CourageousFurious, nguyên được cải biến từ những "tàu tuần dương nhẹ lớn", mỗi chiếc có hai sàn cất-hạ cánh, nhưng không có chứng cứ gì là người Nhật đã sao chép kiểu mẫu của người Anh. Rất có thể đây là sự tiến hóa mang tính hội tụ những biện pháp nhằm phóng lên càng nhiều máy bay càng tốt. Sàn đáp chính của Kaga dài 171,2 mét (561 ft 8 in); sàn giữa chỉ dài 15 mét (49 ft 3 in) và bắt đầu ngay phía trước cầu tàu; và sàn dưới dài khoảng 55 mét (180 ft 5 in). Nghi vấn đặt ra về sự tiện dụng của sàn giữa bởi vì nó quá ngắn, chỉ một số máy bay tải trọng nhẹ mới có thể sử dụng được, ngay cả vào thời đại mà máy bay nhỏ và nhẹ hơn nhiều so với thời Thế Chiến II.[6] Ở bất kỳ tốc độ nào, sự tiến triển về tính năng, kích cỡ và trọng lượng máy bay trong những năm 1930 khiến cho ngay cả sàn cất cánh dưới cũng không đảm đương chiều dài lăn bánh cất cánh cần cho thế hệ máy bay mới được đưa vào sử dụng; vì thế hai sàn cất cánh bên dưới được tháo bỏ và bít kín khi nó được hiện đại hóa giữa những năm 1930.[7] Khác biệt so với Akagi, sàn đáp phía trên của Kaga hoàn toàn phẳng cho đến khi nó được bổ sung một tháp chỉ huy vào giai đoạn được hiện đại hóa.[8]

Khi hoàn tất, con tàu có hai hầm chứa máy bay (hangar) chính và một hầm phụ thứ ba, có thể chứa tổng cộng 60 máy bay. Hai hầm chính mở ra vào sàn cất cánh giữa và sàn cất cánh dưới, cho phép máy bay cất cánh trực tiếp từ hầm chứa, trong khi hoạt động hạ cánh diễn ra ở sàn trên. Máy phóng không được trang bị.[9] Thang nâng máy bay phía trước được đặt lệnh sang mạn phải và có kích thước 10,67 nhân 15,85 mét (35 ft 0 in × 52 ft 0 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]; thang nâng phía sau đặt trên trục giữa và có kích thước 12,8 nhân 9,15 mét (42 ft 0 in × 30 ft 0 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]. Hệ thống dây hãm của nó là kiểu dọc do người Pháp phát triển để sử dụng trên tàu sân bay Béarn của họ; được người Nhật đặt tên là Kiểu Fju (Fju shiki) trong kỹ thuật.[10]

Khi hoàn tất, Kaga mang theo một phi đoàn bao gồm 28 máy bay ném bom-ngư lôi Mitsubishi B1M3, 16 máy bay tiêm kích Nakajima A1N và 16 máy bay tuần tiễu Mitsubishi 2MR.[4][Note 1]

Vũ khí và vỏ giáp

Kaga đang được trang bị hoàn tất, năm 1928. Góc nhìn từ phía sau cho thấy ống khói dài mở rộng về phía sau bên dưới sàn đáp và ba khẩu pháo 8 inch (200 mm) trên các tháp pháo ụ.

Kaga được trang bị mười khẩu pháo 20 cm (7,9 in)/50 caliber, gồm hai tháp pháo nòng đôi kiểu B đặt hai bên sàn cất cánh giữa và số còn lại gồm sáu khẩu trong các tháp pháo ụ phía sau. Chúng bắn ra đạn pháo nặng 110 kilôgam (240 lb) với tốc độ 3 đến 6 phát mỗi phút, với lưu tốc đầu đạn 870 m/s (2.900 ft/s); ở góc nâng 25°, chúng cho phép đạt tầm xa tối đa 22.600–24.000 mét (24.700–26.200 yd). Các tháp pháo kiểu B này trên danh nghĩa có thể nâng cho đến góc 70° để cung cấp hỏa lực phòng không bổ sung, nhưng trong thực tế góc nâng tối đa chỉ đạt được 55°. Tốc độ bắn chậm và góc nạp đạn cố định ở 5° làm triệt tiêu mọi khả năng phòng không.[12][13] Dàn hỏa lực hạng nặng này được bố trí trong trường hợp nó bị tấn công bất ngờ bởi tàu tuần dương đối phương và bị buộc phải tham chiến; nhưng sàn cất-hạ cánh lớn và mong manh, hầm chứa máy bay và cấu trúc thượng tầng làm cho nó trở thành một mục tiêu nổi bật hơn mọi tàu chiến trong các cuộc đụng độ mặt biển. Học thuyết về tàu sân bay vẫn còn đang được phát triển vào lúc đó, và người ta chưa nhận thức được sự phi thực tế của việc đấu pháo tay đôi của tàu sân bay.[14][Note 2]

Con tàu cũng trang bị vũ khí dành riêng phòng không gồm sáu khẩu 12 cm (4,7 in)/45 caliber nòng đôi, bố trí mỗi bên mạn ba khẩu đội trên những bệ nhô bên dưới mức các ống khói, nơi chúng không thể bắn chéo qua mạn của sàn đáp.[16] Các khẩu pháo này bắn ra đạn pháo nặng 20,3 kilôgam (45 lb) với lưu tốc đầu đạn 825–830 m/s (2.710–2.720 ft/s); ở góc nâng 45° chúng cho phép đạt tầm xa tối đa 16.000 mét (17.000 yd), và có được trần bắn tối đa 10.000 mét (11.000 yd) ở góc nâng 75°. Tốc độ bắn hiệu quả của kiểu vũ khí này là từ 6 đến 8 phát mỗi phút.[17][18] Nó còn có hai bộ kiểm soát hỏa lực Kiểu 89 để điều khiển các khẩu pháo 20 cm (7,9 in) và hai bộ kiểm soát hỏa lực Kiểu 91 (Kōshaki) vận hành bằng tay dành cho các khẩu pháo phòng không 12 cm (4,7 in).[19]

Khi được tái cấu trúc, độ dày đai giáp của Kaga được giảm từ 280 mm (11 in) xuống còn 152 mm (6 in), và phần trên của bầu chống ngư lôi có lớp giáp dày 127 mm (5 in). Độ dày vỏ giáp sàn tàu cũng được giảm từ 102 mm (4,0 in) xuống còn 38 mm (1,5 in).[10]

Động lực

Khi Kaga được thiết kế, vấn đề xử lý ảnh hưởng khí nóng thoát ra đối với hoạt động không lực của tàu sân bay vẫn chưa được giải quyết. Các ống khói xoay tròn trên chiếc Hōshō đã không thành công, và những thử nghiệm trong hầm gió không đề xuất được giải pháp nào. Vì vậy KagaAkagi được cung cấp những giải pháp khác nhau để đánh giá trong điều kiện hoạt động thực tế. Khí thải của Kaga được góp vào một cặp ống dẫn dài đặt ngang để thải ra phía sau hai bên sàn đáp, cho dù đã có sự dự đoán của các nhà thiết kế hải quân tiếng tăm rằng chúng không thể đẩy hơi nóng ra cách xa sàn đáp. Sự dự báo này đã tỏ ra chính xác, không chỉ vì Kaga chậm hơn Akagi khiến hơi nóng bốc lên cao và ảnh hưởng đến hoạt động hoạt cánh. Một khuyết điểm khác là sức nóng của khí thải khiến cho chỗ nghỉ của thủy thủ đoàn hai bên lườn tàu cạnh ống khói hầu như không thể ở được.[10]

Kaga được hoàn tất với bốn bộ turbine hơi nước Kawasaki Brown-Curtis, mỗi bộ dẫn động một trục chân vịt, tạo ra tổng công suất 91.000 mã lực càng (67.859 kW). Khi được thiết kế như một thiết giáp hạm, nó được hy vọng sẽ đạt tốc độ tối đa 26,5 hải lý một giờ (49,1 km/h; 30,5 mph), nhưng việc giảm trọng lượng choán nước từ 39.900 tấn Anh (40.500 t) xuống còn 33.693 tấn Anh (34.234 t) đã giúp gia tăng tốc độ tối đa lên 27,5 hải lý một giờ (50,9 km/h; 31,6 mph), vốn đã đạt được khi chạy thử máy vào ngày 15 tháng 9 năm 1928. Nó có 12 nồi hơi Kampon Kiểu B (Ro) với áp suất hoạt động 20 kg/cm2 (1.961 kPa; 284 psi), trong đó chỉ có 8 nồi hơi được đốt dầu, và 4 chiếc còn lại đốt hỗn hợp dầuthan. Trữ lượng nhiên liệu của nó bao gồm 8.000 tấn Anh (8.100 t) dầu và 1.700 tấn Anh (1.700 t) than, cho phép nó tầm hoạt động 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ đường trường 14 hải lý một giờ (26 km/h; 16 mph).[10]

Hiện đại hóa

Trong phục vụ, việc sắp xếp nhiều sàn cất cánh và hạ cánh tỏ ra không thành công. Do đó vào năm 1934, chiếc Kaga được cấu trúc lớn lại lần thứ hai. Sàn đáp và các sàn chứa máy bay được kéo dài đến mũi, chiều dài của sàn đáp được tăng lên 247,6 m (812,5 ft) và có khả năng chứa 90 máy bay. Một thang nâng thứ ba phục vụ cho phần sàn chứa máy bay được kéo dài. Các nồi hơi và tua-bin mới nâng công suất từ 91.000 lên 127.400 mã lực. Sườn tàu được kéo dài thêm 10,4 m (34 ft) ở phần đuôi và ống dẫn khói dọc dài được thay thế bằng một duy khói duy nhất hướng xuống dưới bên mạn phải. Một đảo cấu trúc thượng tầng nhỏ bên mạn phải tàu cũng được trang bị.[9] Trọng lượng rẽ nước chuẩn được gia tăng gần 9.000 tấn, từ 29.600 lên 38.200 tấn.

Lịch sử hoạt động

Kaga quay lại hoạt động vào năm 1935. Vào những năm cuối của thập niên 1930, chiếc Kaga hỗ trợ các chiến dịch tại Trung Quốc, và tham gia vào sự kiện Thượng Hải xảy ra ngày 28 tháng 1 năm 1932 và trong những năm đầu của cuộc Chiến tranh Trung-Nhật.

Vào lúc bắt đầu Thế Chiến II, Kaga dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng Jisaku Okada. Nó cùng với chiếc tàu sân bay Akagi tạo nên Hạm đội Tàu sân bay 1 của Lực lượng Đặc nhiệm trong trận Trân Châu Cảng. Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941 nó tung ra hai đợt không kích vào đảo Oahu. Trong đợt không kích thứ nhất, 26 chiếc máy bay ném ngư lôi Nakajima B5N "Kate" đã nhắm vào những chiếc Arizona, Vestal, Tennessee, West Virginia, OklahomaNevada, trong khi chín chiếc máy bay tiêm kích Mitsubishi A6M "Zero" tấn công vào phi trường Hickam. Trong đợt không kích thứ hai, 23 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A "Val" đã nhắm vào những chiếc Nevada, Maryland, and West Virginia.

Vào tháng 1 năm 1942, cùng với chiếc Akagi, Kaga đã hỗ trợ cho trận tấn công Rabaul trong quần đảo Bismarck. Vào ngày 9 tháng 2 nó va phải dãy san hô ngầm tại Palau. Sau những sửa chữa tạm thời, nó tiếp tục đi đến biển Timor, và vào ngày 19 tháng 2 năm 1942 nó tung ra đợt không kích vào Darwin (Úc)‎, đánh chìm chín tàu chiến bao gồm khu trục hạm USS Peary. Vào tháng 3 năm 1942, Kaga hỗ trợ cho cuộc xâm chiếm Java.

Kaga không thể tham gia vào trận không kích Ấn Độ Dương vào tháng 4 năm 1942 do những hư hỏng phải chịu đựng vào tháng Hai. Nó buộc phải quay về Sasebo để sửa chữa.

Chiếc Kaga lúc bắt đầu Thế Chiến II.

Vào tháng 5 năm 1942, Kaga bắt đầu khởi hành chuyến hải trình cuối cùng. Các phi đội máy bay của nó bao gồm 30 chiếc "Zero", 23 chiếc "Val" và 30 chiếc "Kate".[20] Vào ngày 4 tháng năm 1942 Kaga tung ra các đợt không kích vào đảo Midway, rồi bị các máy bay Mỹ đặt căn cứ trên đảo và trên các tàu sân bay tấn công. Vào lúc 10 giờ 22 phút, những chiếc máy bay ném bom bổ nhào SBD Dauntless từ tàu sân bay Enterprise đánh trúng nó với ít nhất bốn quả bom 453,6 kg (1.000 lb), gây ra các vụ nổ và đám cháy trong số máy bay chất đầy bom và đổ đầy nhiên liệu trong sàn chứa máy bay. Thuyền trưởng Okada bị giết khi một quả bom đánh trúng cầu tàu. Đám cháy tỏ ra không thể kiểm soát được và lệnh bỏ tàu được đưa ra lúc vào khoảng 14 giờ.[21] Vào lúc 14 giờ 10 phút, chiếc tàu ngầm Mỹ Nautilus bắn trúng một ngư lôi vào chiếc Kaga, nhưng nó bị tịt ngòi và không phát nổ. Thủy thủ đoàn của chiếc Kaga được các khu trục hạm HagikazeMaikaze vớt lên, và cuối cùng lúc 19 giờ 25 phút nó bị đánh đắm bởi hai trái ngư lôi và chìm tại tọa độ 30°20′B 179°17′T / 30,333°B 179,283°T / 30.333; -179.283.

Vào năm 1999, công ty Nauticos tìm thấy những mảnh vụn được xác định là của chiếc Kaga.

Danh sách thuyền trưởng

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Tác giả Hara cho rằng thành phần không lực của khi đưa vào hoạt động bao gồm 12 máy bay tiêm kích Kiểu 3 (với 3 chiếc dự trữ), 6 máy bay trinh sát (với 2 chiếc dự trữ) và 18 máy bay ném ngư lôi (với 6 chiếc dự trữ).[11]
  2. ^ Vào thời đó Hải quân Hoa Kỳ cũng đã hành động tương tự khi trang bị bốn tháp pháo 8 inch (203 mm) nòng đôi trên những tàu sân bay lớp Lexington của họ.[15]

Chú thích

  1. ^ Gardiner 1984, tr. 232
  2. ^ Jentschura 1977, tr. 35
  3. ^ Lengerer 1982, tr. 128
  4. ^ a ă Lengerer 1982, tr. 129
  5. ^ Jentschura 1977, tr. 42
  6. ^ Lengerer 1982, tr. 130, 134
  7. ^ Lengerer 1982, tr. 130, 136
  8. ^ Peattie 2001, tr. 54-55
  9. ^ a ă Ireland, Bernard (2007). Aircraft Carriers of the World. Southwater. tr. 102–103. ISBN 9781844763634. 
  10. ^ a ă â b Lengerer 1982, tr. 134
  11. ^ Hata 1975, tr. 24
  12. ^ “Japanese 20 cm/50 (7.9") 3rd Year Type No. 1”. navweaps.com. 19 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009. 
  13. ^ Campbell 1985, tr. 187
  14. ^ Peattie 2001, tr. 53, 55
  15. ^ Gardiner 1984, tr. 110
  16. ^ Lengerer 1982, tr. 131
  17. ^ “Japan 12 cm/45 (4.7") 10th Year Type”. navweaps.com. 28 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009. 
  18. ^ Campbell 1985, tr. 194
  19. ^ Parshall 2005, tr. 140, 467
  20. ^ Battle of Midway, www.history.navy.mil
  21. ^ Kaga, www.history.navy.mil

Thư mục

  • Campbell, John (1985). Naval Weapons of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-459-4. 
  • Cressman, Robert J.; Steve Ewing, Barrett Tillman, Mark Horan, Clark G. Reynolds, and Stan Cohen (1990). A Glorious Page in our History: The Battle of Midway 4–6 June 1942. Missoula, Montana: Pictorial Histories Publishing Company, Inc. ISBN 978-0-929521-40-4. 
  • Evans, David C. (Editor); Mitsuo Fuchida (1986 (2nd Edition)). The Japanese Navy in World War II: In the Words of Former Japanese Naval Officers. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-316-4.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Fuchida, Mitsuo; Masatake Okumiya (1955). Midway: The Battle That Doomed Japan, The Japanese Navy's Story. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute. OCLC 607018642. 
  • Gardiner, Robert; Gray, Randal biên tập (1984). Conway's All the World's Fighting Ships: 1906–1922. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-85177-245-5. 
  • Gill, G. Hermon (1957). Volume I – Royal Australian Navy, 1939–1942 (1st edition). Australia in the War of 1939–1945, Series 2: Navy. Canberra: Australian War Memorial. 
  • Goldstein, Donald M.; Katherine V. Dillon (editors) (2004). The Pacific War Papers: Japanese Documents of World War II. Dulles, Virginia: Potomac Books. ISBN 1-57488-632-0. 
  • Hata, Ikuhiko; Yasuho Izawa, Don Cyril Gorham (translator) (1975 (original) 1989 (translation)). Japanese Naval Aces and Fighter Units in World War II. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-315-6.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy 1895–1945. Fairfield, Pennsylvania: Fairfield Graphics. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Ireland, Bernard (2007). Aircraft Carriers of the World. London: Southwater. ISBN 978-1-84476-363-4. 
  • Jentschura, Hansgeorg; Dieter Jung and Peter Mickel (1977). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Lengerer, Hans (1982). “Akagi & Kaga”. Trong Roberts, John. Warship VI. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-87021-981-2. 
  • Lundstrom, John B. (2005 (New edition)). The First Team: Pacific Naval Air Combat from Pearl Harbor to Midway. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-189-7.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Parshall, Jonathan; Tully, Anthony (2005). Shattered Sword: The Untold Story of the Battle of Midway. Dulles, Virginia: Potomac Books. ISBN 1-57488-923-0. 
  • Peattie, Mark (2001). Sunburst: The Rise of Japanese Naval Air Power 1909–1941. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-432-6. 
  • Sakaida, Henry (2002). Aces of the Rising Sun, 1937–1945. Oxford: Osprey Publishing. ISBN 1-84176-618-6. 
  • Stille, Mark (2007). USN Carriers vs IJN Carriers: The Pacific 1942. Oxford: Osprey Publishing. ISBN 978-1-84603-248-6. 
  • Toland, John (2003 (1970)). The Rising Sun: The Decline and Fall of the Japanese Empire, 1936–1945. New York: The Modern Library. ISBN 0-8129-6858-1.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • Tully, Anthony P. (2000). “IJN Kaga: Tabular Record of Movement”. Kido Butai. Combinedfleet.com. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2010. 
  • Werneth, Ron (2008). Beyond Pearl Harbor: The Untold Stories of Japan's Naval Airmen. Atglen, Pennsylvania: Schiffer Military History. ISBN 978-0-7643-2932-6. 
  • Willmott, H. P. (1983). The Barrier and the Javelin: Japanese and Allied Pacific Strategies, February to June 1942. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-949-1. 

Liên kết ngoài