Katsudō Shashin

Cảnh phim pha ba màu cơ bản đỏ-đen-trắng mô tả một cậu bé mặc đồng phục và mũ kiểu thủy thủ; tay cậu đang chạm vào vành mũ
Một khung hình của bộ phim dài ba giây Katsudō Shashin, không rõ tác giả và ngày tạo.

Katsudō Shashin (Nhật: 活動写真? tạm dịch: Tấm hình chuyển động), đôi khi còn gọi là Matsumoto fragment (松本フラグメント? Thước phim Matsumoto, theo tên người tìm ra nó là Matsumoto Natsuki), là một đoạn phim anime và là tác phẩm lâu đời nhất được biết đến của nền hoạt hình Nhật Bản. Không rõ ai là tác giả của đoạn phim này. Có bằng chứng cho thấy đoạn phim được tạo ra trước năm 1912, có thể trước cả sự xuất hiện của những bộ phim hoạt hình phương Tây đầu tiên tại Nhật Bản. Nó được tìm thấy trong một bộ sưu tập phim ảnh và máy chiếu ở Kyōto vào năm 2005.

Đoạn phim dài ba giây, mô tả một cậu bé viết các chữ kanji "活動写真", sau đó nhấc mũ lên chào. Những khung hình được in lưới màu với hai màu đỏ-đen bằng cách sử dụng một thiết bị tạo ra các hình chiếu đèn lồng ma thuật. Cuộn phim được ghép nối thành một vòng lặp để chiếu liên tục.

Mô tả

Katsudō Shashin

Katsudō Shashin bao gồm một loạt ảnh hoạt họa từ năm mươi khung hình của một thước cel phim có thời lượng ba giây với tốc độ 16 khung hình trên giây.[1] Nó miêu tả một cậu bé mặc quân phục thủy thủ viết hàng chữ kanji "活動写真" (katsudō shashin, "tấm hình chuyển động") theo chiều từ phải sang trái, sau đó quay về phía người xem và ngả mũ chào.[1] Katsudō Shashin chỉ là một tiêu đề tạm thời, do không rõ nhan đề gốc của phim là gì.[2]

Không giống hoạt hình truyền thống, các khung hình không được tạo theo kiểu chụp ảnh, mà đúng hơn là được in lên phim bằng một khuôn in lưới màu.[3] Công đoạn này hoàn thành nhờ kappa-ban,[a] một thiết bị dùng để in lưới màu các hình chiếu đèn lồng ma thuật. Hình ảnh trên một thước phim 35mm được thể hiện bằng màu đỏ và đen[b][4], hai đầu thước phim được ghép nối thành một vòng lặp để chiếu phát liên tục.[5]

Bối cảnh

Các phim hoạt hình xưa cũ nhất được in sẵn lên đồ chơi quang học như zoetrope đã có mặt trước phim hoạt hình chiếu rạp. Hãng sản xuất đồ chơi Đức Gebrüder Bing giới thiệu một máy quay phim tại một lễ hội đồ chơi ở Nürnberg vào năm 1898; sau đó các công ty đồ chơi khác nhanh chóng bán ra những thiết bị tương tự.[6] Phim người đóng quay bằng các thiết bị này rất tốn kém; có lẽ từ buổi sơ kỳ 1898 thì những thước phim hoạt hình làm bằng các thiết bị này đã ra đời và có thể được ghép nối để phát thành vòng lặp và xem liên tục.[7] Những thiết bị nhập từ Đức này xuất hiện ở Nhật Bản sớm nhất từ năm 1904;[8] những phim dùng chúng có thể gồm các hoạt cảnh được chiếu lặp lại.[9]

Cảnh phim về một samurai ôm thanh kiếm
Phim hoạt hình Nhật Bản như Namakura-gatana của Kōuchi Jun'ichi bắt đầu xuất hiện tại các rạp chiếu vào năm 1917.

Kỹ thuật chiếu phim du nhập từ phương Tây vào Nhật Bản khoảng những năm 1896–97.[10] Phim hoạt hình nước ngoài chiếu sớm nhất tại các rạp phim Nhật Bản mà có thể xác định được thời gian là The Nipper's Transformations (1911) của họa sĩ diễn hoạt người Pháp Émile Cohl,[c] công chiếu tại Tokyo vào ngày 15 tháng 4 năm 1912. Các tác phẩm của Shimokawa Ōten, Kitayama SeitarōKōuchi Jun'ichi vào năm 1917 là những phim hoạt hình Nhật Bản đầu tiên chạm tới màn ảnh rộng.[11] Những phim thất lạc chỉ được tìm lại một số ít trong những phiên bản "phim đồ chơi" xem tại gia qua các máy chiếu dùng tay quay; bộ phim cổ nhất còn tồn tại là Hanawa Hekonai meitō no maki[d] (1917) qua nhan đề Namakura-gatana trong phiên bản tại gia.[12]

Qua hàng chữ tiếng Nhật, nhà nghiên cứu Annett Sandra nhận định rằng Katsudō Shashin hoàn toàn nhắm vào khán giả thuộc một quốc gia có thể đọc được kanji, thay vì mang tính hướng ra quốc tế.[13] Trong đoạn phim, người ta cũng thấy chủ đề, nhân vật hoặc cách tiếp cận được sử dụng trong anime giai đoạn trước hoặc trong chiến tranh.[13] Giống với phim tuyên truyền Momotarō: Umi no Shinpei dùng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Katsudō Shashin cho thấy hình ảnh cậu bé mặc quân phục cùng tầm quan trọng của việc học tập và giảng dạy tiếng Nhật.[13] Tác phẩm cũng thể hiện thuyết phản thân.[13]

Phát hiện

Tháng 12 năm 2004, một nhà buôn đồ cũ ở Kyōto đã liên lạc với Matsumoto Natsuki,[e][3] một chuyên gia về biểu tượng họcđại học Nghệ thuật Osaka. Tháng 1 năm 2005, nhà buôn mua được một tuyển tập các phim và nhiều máy chiếu từ một ngôi nhà cũ ở Kyoto, Matsumoto đã tới lấy chúng ngay tháng sau.[3] Tuyển tập tập gồm ba máy chiếu, mười một cel phim 35 mm và mười ba ống kính hình chiếu đèn lồng ma thuật.[3]

Khi Matsumoto tìm thấy Katsudō Shashin trong truyển tập,[14] thước phim trong tình trạng tệ.[15] Tuyển tập bao gồm ba thước phim hoạt hình phương Tây;[16] Katsudō Shashin có lẽ được làm để bắt trước các ví dụ của hoạt hình Đức hoặc hoạt hình phương Tây khác.[16] Dựa trên bằng chứng như ngày sản xuất có lẽ đúng của những chiếc máy chiếu trong tuyển tập, Matsumoto và nhà sử học hoạt hình Tsugata Nobuyuki (ja)[f] đã xác định rằng bộ phim có nhiều khả năng được làm vào cuối thời kỳ Minh Trị, thời kỳ này kết thúc vào năm 1912.[g][17] Nhà sử học Litten Frederick S. đề xuất năm 1907 là mốc thời gian khả thi nhất,[2] và cho rằng "một mốc thời gian sản xuất trước năm 1905 hoặc sau năm 1912 đều không chắc chắn".[9] Các nguồn khác như China Daily đã suy đoán về một thời điểm trước năm 1907, tuy nhiên không dựa vào một nghiên cứu khoa học về phát hiện mà thậm chí còn mâu thuẫn với nghiên cứu.[18] Đối với nhà nghiên cứu Litten Frederick S, Katsudō Shashin là phim hoạt hình Nhật Bản cổ nhất hiện tại.[19] Phát hiện này chứng minh rằng Kitayama SeitarōKōuchi Jun'ichi không phải là những người đầu tiên sử dụng phim 35mm tại Nhật Bản.[15] Thời điểm ấy, các rạp chiếu phimNhật Bản rất hiếm,[5] bằng chứng gợi dẫn Katsudō Shashin đã được sản xuất hàng loạt để bán cho những người sở hữu máy chiếu tại gia giàu có.[20] Tác giả thước phim vẫn chưa được xác định,[14] theo Matsumoto thì chất lượng phim kém và kỹ thuật in ấn công nghệ thấp cho thấy nó có thể là sản phẩm từ một công ty nhỏ hơn.[9]

Phát hiện đã phủ sóng khắp truyền thông Nhật Bản,[3] đầu tiên chi nhánh Ōsaka của báo Asahi Shimbun đã được Matsumoto Natsuki thông báo và cũng là phương tiện truyền thông đầu tiên truyền tải tin tức vào ngày 30 tháng 7 năm 2005.[21] Dù còn nhiều suy đoán về ngày sản xuất và bộ phim, năm 1907 đã chiếm ưu thế đặc biệt trong thế giới nói tiếng Anh[22] thông qua các nền tảng truyền thông và Internet như YouTube hay Wikipedia.[22] Truyền thông đại chúng nhanh chóng phóng đại mục đích sự kiện, biến đổi từ việc phát hiện một chủ thể hiếm hoi thành một thứ có thể cách mạng hóa lịch sử hoạt hình, cho rằng truyền thông hoạt hình chính là một phát minh của Nhật Bản.[18] Sự kiện truyền thông rạp xiếc đã diễn ra tại Nhật Bản và một số tạp chí anime nước ngoài.[18] Nếu ngày tạo ra nó như suy đoán, bộ phim sẽ có cùng tuổi đời - hoặc thậm chí cổ hơn - những tác phẩm hoạt hình đầu tiên của Émile Cohl hay các họa sĩ diễn hoạt người Mỹ như Stuart Blackton J.Winsor McCay. Báo Asahi Shimbun thừa nhận tầm quan trọng việc phát hiện phim hoạt hình thời kỳ Minh Trị, nhưng bày tỏ dè dặt việc đặt bộ phim trong phả hệ của hoạt hình Nhật Bản khi viết [Katsudō Shashin] "gây tranh cãi rằng nên gọi nó là hoạt hình theo nghĩa hiện đại".[15]

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ 合羽版 kappa-ban; Quá trình in được gọi là kappa-zuri (合羽刷り)
  2. ^ Hay còn gọi là khổ 135, vì 35 mm là chiều rộng bản phim tính cả viền lỗ. Phim 135 thông thường cho ra khuôn hình 36x24 mm.[2]
  3. ^ tiếng Pháp: Les Exploits de Feu Follet; tiếng Nhật: ニッパルの変形 Nipparu no Henkei
  4. ^ 塙凹内名刀之巻 Hanawa Hekonai meitō no maki, "Thanh gươm nổi tiếng của Hanawa Hekonai"
  5. ^ 松本 夏樹 Matsumoto Natsuki, b. 1952
  6. ^ 津堅 信之 Tsugata Nobuyuki, b. 1968
  7. ^ Thời kỳ Minh Trị kéo dài từ năm 1868 tới năm 1912.

Tham khảo

  1. ^ a ă Dàn quản lý Anime News Network 2005.
  2. ^ a ă â Litten 2014, tr. 13.
  3. ^ a ă â b c Matsumoto 2011, tr. 98.
  4. ^ Matsumoto 2011, tr. 116.
  5. ^ a ă Dàn quản lý Asahi Shimbun 2005.
  6. ^ Litten 2014, tr. 9.
  7. ^ Litten 2014, tr. 10.
  8. ^ Litten 2014.
  9. ^ a ă â Litten 2014, tr. 15.
  10. ^ Matsumoto 2011, tr. 112.
  11. ^ Litten 2013, tr. 27.
  12. ^ Matsumoto 2011, tr. 96–97.
  13. ^ a ă â b Annett 2013, tr. 73.
  14. ^ a ă Clements & McCarthy 2006, tr. 169.
  15. ^ a ă â López 2012, tr. 584.
  16. ^ a ă Litten 2014, tr. 12.
  17. ^ Matsumoto & Tsugata 2006, tr. 101; Matsumoto 2011, tr. 115.
  18. ^ a ă â Clements 2013, tr. 20.
  19. ^ Annett 2013, tr. 15.
  20. ^ Matsumoto 2011, tr. 116–117.
  21. ^ Matsumoto & Tsugata 2006.
  22. ^ a ă Annett 2014, tr. 28-30.

Trích dẫn

  • Annett, Sandra (2013). Animating Transcultural Communities : Animation Fandom in North America and East Asia from 1906 – 2010 [Nhóm dòng chảy hoạt họa: Cộng đồng người hâm mộ tại Bắc Mỹ và Đông Á từ 1906 - 2010] (bằng tiếng Anh). Library and Archives Canada. ISBN 9780494788868. 
  • Annett, Sandra (2014). Anime Fan Communities: Transcultural Flows and Frictions [Cộng đồng người hâm mộ anime: Dòng chảy văn hóa phun trào và va chạm] (bằng tiếng Anh). Springer. ISBN 9781137476104. 
  • Dàn quản lý Anime News Network (ngày 7 tháng 8 năm 2005). “Oldest Anime Found” [Anime cổ nhất được tìm thấy]. Anime News Network. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. 
  • Dàn quản lý Asahi Shimbun (ngày 1 tháng 8 năm 2005). “Nihon saiko? Meiji jidai no anime firumu, Kyōto de hakken” 日本最古?明治時代のアニメフィルム、京都で発見 [Cổ nhất Nhật Bản? Phim hoạt hình thời Minh Trị được tìm thấy ở Kyoto]. Báo Nhân Dân của Trung Quốc (Bản tiếng Nhật) (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014. 
  • Clements, Jonathan; McCarthy, Helen (2006). The Anime Encyclopedia: A Guide to Japanese Animation Since 1917 [Bách khoa toàn thư Anime: Hướng dẫn về Hoạt hình Nhật Bản kể từ năm 1917]. Stone Bridge Press. ISBN 978-1-84576-500-2. 
  • Litten, Frederick S. (2013). “Shōtai kenkyū nōto: Nihon no eigakan de jōei sareta saisho no (kaigai) animēshon eiga ni tsuite” 招待研究ノート:日本の映画館で上映された最初の(海外)アニメーション映画について [Bộ phim hoạt hình (nước ngoài) đầu tiên chiếu trong rạp chiếu phim tại Nhật Bản]. Tạp chí Nghiên cứu Hoạt hình Nhật Bản (bằng tiếng Nhật) 15 (1A): 27–32. 
  • Litten, Frederick S. (ngày 17 tháng 6 năm 2014). “Japanese color animation from ca. 1907 to 1945” [Phim hoạt hình màu của Nhật từ 1907 đến 1945] (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  • López, Antonio (2012). “A New Perspective on the First Japanese Animation” [Một nhìn nhận mới về bộ phim hoạt hình Nhật Bản đầu tiên]. Công bố‚ Confia‚ (Hội nghị quốc tế về minh họa và hoạt hình)‚ ngày 29–30 tháng 11 năm 2012. IPCA. tr. 579–586. ISBN 978-989-97567-6-2. 
  • Matsumoto, Natsuki; Tsugata, Nobuyuki (2006). “Kokusan saikō to kangaerareru animēshon firumu no hakken ni tsuite” 国産最古と考えられるアニメーションフィルムの発見について [Phát hiện bộ phim hoạt hình Nhật được cho là lâu đời nhất]. Eizōgaku (bằng tiếng Nhật) (76): 86–105. ISSN 0286-0279. 
  • Matsumoto, Natsuki (2011). “映画渡来前後の家庭用映像機器” [Trang chủ tài liệu về phim từ những ngày đầu tiên của nền điện ảnh Nhật Bản]. Trong Iwamoto, Kenji. Nihon eiga no tanjō 日本映画の誕生 [Sự ra đời của điện ảnh Nhật Bản] (bằng tiếng Nhật). Shinwa-sha. tr. 95–128. ISBN 978-4-86405-029-6. 
  • Clements, Jonathan (2013). Anime: A History [Anime: một lịch sử] (bằng tiếng Anh). British Film Institute. ISBN 9781844573905. 

Liên kết ngoài