Key (công ty)

Key
Tên giao dịch
VisualArt's/Key
Loại hình
Tư nhân
Ngành nghềTrò chơi máy tính, anime
Thể loạiEroge & Visual novel
Tình trạng   Đang hoạt động   
Thành lậpŌsaka, Nhật Bản (21 tháng 7, 1998 (1998-07-21))
Người sáng lập
Trụ sở chínhKita, Ōsaka,  Nhật Bản
Khu vực hoạt độngNhật Bản
Nhân viên chủ chốt
  • Maeda Jun
  • Na-Ga
  • Orito Shinji
Sản phẩm
Công ty mẹVisual Art's
Websitekey.visualarts.gr.jp

Key là một hãng visual novel Nhật Bản thành lập vào ngày 21 tháng 7, 1998 và là một trong những thương hiệu của nhà xuất bản Visual Art's, đặt trụ sở tại Kita, thành phố Ōsaka, tỉnh Ōsaka. Visual novel đầu tay của Key là Kanon (1999) đã xây dựng một kịch bản chi tiết kết hợp với nét vẽ theo phong cách anime hiện đại và âm nhạc lay động, từ đó tạo nên nhiều cảm xúc với người chơi. Trò chơi thứ hai của Key là AIR (2000) cũng theo hình thức tương tự, trừ việc cốt truyện được xây dựng phức tạp hơn và lối chơi triệt để hơn Kanon. Ban đầu, KanonAIR đều ra mắt như những trò chơi dành cho người lớn, nhưng Key đã phá vỡ khuynh hướng này với tựa game thứ ba của họ là CLANNAD (2004), dành cho mọi lứa tuổi. Key nhiều lần hợp tác với InterchannelPrototype để phát hành các trò chơi của họ trên hệ máy cầm tay. Key cũng hợp tác với P.A. WorksAniplex trong việc sản xuất các xê-ri anime Angel Beats! (2010) và Charlotte (2015). Key đã phát triển 12 trò chơi, mới nhất là kinetic novel Harmonia (2016), và đã thông báo về tác phẳm sắp ra mắt của họ là Summer Pockets.

Nhà đồng sáng lập Maeda Jun được ví như đầu tàu của thương hiệu này; ông tham gia hoạch định, viết kịch bản và soạn nhạc cho những visual novel chính của Key. Na-Ga là họa sĩ chính của Key; trong những năm đầu công việc chính yếu của ông là đồ họa cảnh nền, nhưng từ tựa game thứ sáu là Little Busters! (2007), Na-Ga đã trở thành đồng chỉ đạo nghệ thuật với Hinoue Itaru, cựu họa sĩ của Key. Orito Shinji, nhạc sĩ chính của Key và cũng là một nhà đồng sáng lập, đã sản xuất âm nhạc trong hầu hết tác phẩm. Kai vốn là một nhà văn đến từ công ty mẹ Visual Art's, nhưng đã tích cực phát triển nhiều trò chơi của Key, và tiếp tục giữ vai trò này sau khi một trong những nhà biên kịch chính là Tonokawa Yūto từ chức. Trò chơi thứ chín của Key là Rewrite (2011) đã ghi dấu hai tác giả thuê ngoài: Tanaka RomeoRyukishi07.

Key nhiều lần tham gia hội chợ Comiket kể từ Comiket 57 vào tháng 12 năm 1999, nơi họ bán các mặt hàng theo chủ đề Kanon; lần xuất hiện mới nhất của Key tại Comiket là vào dịp Comiket 89 diễn ra vào tháng 12 năm 2015. Trong những năm gần đây, Key tích cực tham gia các hội chợ và triển lãm anime bên ngoài Nhật Bản, nơi họ giao lưu với cộng đồng người hâm mộ và bán sản phẩm cho khách hàng hải ngoại của mình. Năm 2001, Visual Art's thành lập hãng thu âm Key Sounds Label nhằm mục đích phát hành album nhạc và đĩa đơn dành cho các nhạc phẩm liên quan đến những tựa game của Key cũng như những anime mà họ phối hợp sản xuất. Tính đến tháng 12 năm 2015, Key Sounds Label đã phát hành hơn 100 đĩa nhạc. Từ năm 2007 đến 2010, Key tự sản xuất một chương trình phát thanh Internet gọi là Key Net Radio để quảng bá thương hiệu của họ.

Nhiều trò chơi của Key có thành tích nổi bật về mặt doanh số với việc liên tục đứng đầu các bảng xếp hạng trò chơi máy tính tại Nhật Bản trong nhiều tuần đầu tiên sau khi phát hành. Hầu hết chúng được chuyển thể thành nhiều loại hình truyền thông khác nhau như anime, manga, light novel và có những tác động nhất định đến văn hóa đại chúng. Một số visual novel của Key cũng được dịch sang tiếng Anh và phát hành trên toàn cầu qua nền tảng Steam. Tiên phong trong việc củng cố "nakige"—một phong cách thể loại hướng đến khả năng lấy nước mắt của người chơi, các tựa game của Key đã tạo ra nhiều ảnh hưởng đến xu hướng chung của dòng trò chơi này. Nghiên cứu của nhà phê bình Azuma Hiroki chỉ ra những yếu tố mà Key sáng tạo trong tác phẩm của họ có thể là một ví dụ tiêu biểu của sự chú trọng hướng đến văn học trong tiểu văn hóa otaku.

Lịch sử

Lịch sử phát hành visual novel
1999Kanon
2000AIR
2004CLANNAD
2004planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~
2005Tomoyo After ~It's a Wonderful Life~
2007Little Busters!
2008Little Busters! Ecstasy
2010Kud Wafter
2011Rewrite
2012Rewrite Harvest festa!
2015Angel Beats!
2016Harmonia
CTBSummer Pockets

Trước khi Key ra đời, các sáng lập viên lúc bấy giờ đang làm việc cho một thương hiệu phát triển visual novel khác là Tactics thuộc nhà xuất bản Nexton. Vào thời điểm sản xuất Dōsei, tựa game đầu tay của Tactics, bốn trong số những nhân viên về sau gia nhập Key sớm nhất đã tham gia phát triển trò chơi này: Hinoue Itaru là chỉ đạo nghệ thuật, Orito Shinji soạn nhạc, còn Miracle Mikipon và Shinory phụ trách khâu đồ họa vi tính. Sau khi phát hành Dōsei, những người còn lại—Hisaya Naoki, Maeda JunOdiakeS—mới đến Tactics và họ cùng phát triển hai tựa game khác: MOON. phát hành ngày 21 tháng 11 năm 1997, và ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ phát hành ngày 29 tháng 5 năm 1998. Bất đồng ý kiến giữa Nexton và nhóm phát triển ở Tactics về cách sản xuất trò chơi tiếp theo đã khiến cho hầu hết nhân viên của thương hiệu này nghỉ việc để tìm kiếm một nhà xuất bản khác cho phép họ tự do sáng tạo tác phẩm kế tiếp.[1]

Hinoue Itaru trước đây từng làm việc với Visual Art's một lần, và bà đã giới thiệu những đồng nghiệp của mình với giám đốc Visual Art's là Baba Takahiro.[1] Baba trao cho nhóm phát triển quyền tự do như họ mong muốn, và họ chính thức chuyển sang làm việc cho Visual Art's rồi thành lập Key vào ngày 21 tháng 7 năm 1998. Lúc đó mặc dù trò chơi đầu tay của Key là Kanon vẫn đang trong những bước sản xuất đầu tiên, các nhà phát triển thực chất vẫn chưa quyết định được tên gọi cho thương hiệu của họ. Ban đầu thương hiệu dự định lấy tên Azurite (アズライト Azuraito?, khoáng chất azurit), nhưng Maeda Jun cảm thấy không hài lòng và muốn một cái tên có thể giúp nắm bắt hình ảnh của hãng. Maeda nghĩ đến Key khi ông nhìn thấy cái tên này trên bảng hiệu của cửa hàng nhạc cụ mà ông luôn đi ngang qua trên đường từ nhà mình đến công ty, và ngay lập tức thích nó.[1] Cuối cùng cái tên Key được hãng quyết định sử dụng bằng cách biểu quyết.[2] Key phát hành Kanon vào ngày 4 tháng 6, 1999 như một trò chơi dành cho người lớn,[3], mặc dù những cảnh có tính chất khiêu dâm đã được giữ ở mức tối thiểu. Sự thay đổi này đã giúp người chơi tập trung nhiều hơn vào câu chuyện của các nhân vật chính cũng như hình ảnh và âm nhạc, vốn là điều mới lạ đối với một visual novel lúc bấy giờ. Một năm sau, vào ngày 8 tháng 9 năm 2000, Key phát hành trò chơi thứ hai của họ là AIR, cũng là một game dành cho người lớn và thiết kế cách truyền tải cốt truyện tương tự Kanon.[4]

Tựa game thứ ba của Key là CLANNAD cũng có phong cách giống với hai visual novel trước đó, nhưng không chứa nội dung người lớn. CLANNAD dự định sẽ phát hành trong năm 2002 nhưng đã bị trì hoãn đến hai năm, và cuối cùng ra mắt ngày 28 tháng 4 năm 2004.[5] Bảy tháng sau đó, Key tung ra trò chơi ngắn nhất của họ, planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~, vào ngày 29 tháng 11 năm 2004, vẫn thích hợp với mọi lứa tuổi.[6] Trái ngược với những tác phẩm trước, planetarian là một visual novel tuyến tính không đòi hỏi người chơi chọn lựa hướng đi trong suốt quá trình thưởng thức; tiểu thể loại mới này được biết đến với tên kinetic novel. Tomoyo After ~It's a Wonderful Life~, visual novel thứ năm của Key, là một trò chơi dành cho người lớn và là spin-off của CLANNAD, phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2005.[7] Nội dung trò chơi mở rộng thêm kịch bản của nhân vật nữ chính Sakagami Tomoyo trong CLANNAD. Key phát hành tựa game thứ sáu, Little Busters!, vào ngày 27 tháng 7, 2007 mà không có nội dung người lớn,[8] nhưng sau đó tung ra một phiên bản khác với nhan đề Little Busters! Ecstasy vào ngày 25 tháng 7 năm 2008, bổ sung các cảnh khiêu dâm, kịch bản và minh họa mới.[9][10] Vào thời điểm đó, Little Busters! Ecstasy là tác phẩm dài nhất của Key.[11]

Nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Key, hãng và Visual Art's đã tổ chức một sự kiện dài hai ngày từ 28 tháng 2 đến 1 tháng 3, 2009 gọi là "Key 10th Memorial Fes: Ano Hi kara Hajimatta Bokura no Toki o Kizamu Uta" (~あの日から始まった僕らの時を刻む唄~? tạm dịch: Khúc ca theo năm tháng của chúng ta bắt đầu từ ngày hôm ấy).[12] Key hợp tác cùng P.A. WorksAniplex[13][14] để sản xuất bộ anime truyền hình dài tập Angel Beats!, phát sóng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010. Trò chơi thứ tám của Key là Kud Wafter phát hành ngày 25 tháng 6, 2010 như một spin-off dành cho người lớn của Little Busters!, với kịch bản mở rộng dành cho nhân vật nữ chính Noumi Kudryavka trong Little Busters!Ecstasy.[15] Tác phẩm thứ chín, Rewrite, ra mắt ngày 24 tháng 6, 2011 với phân hạng mọi lứa tuổi,[16] và một fan disc mọi lứa tuổi của nó lấy nhan đề Rewrite Harvest festa! tiếp tục trình làng vào ngày 27 tháng 7 năm 2012.[17] Tiếp nối kế hoạch phát triển sau dự án anime năm 2010, phần thứ nhất trong loạt sáu phần visual novel dài kỳ Angel Beats!, có tựa Angel Beats! -1st beat-, đã ra mắt ngày 26 tháng 5 năm 2015.[18][19] So với bản phim, trò chơi này bổ sung một lượng đáng kể kịch bản và được viết lại nhiều tình tiết. Key một lần nữa hợp tác với P.A. Works và Aniplex để sản xuất bộ anime truyền hình dài tập Charlotte,[20] phát sóng từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2015. Nhân kỷ niệm 15 thành lập Key, hãng và Visual Art's đã tổ chức một sự kiện dài hai ngày từ 11 đến 12 tháng 4 năm 2015,[21] và tiếp nối bằng việc mang kinetic novel Harmonia đến với công chúng toàn cầu vào ngày 23 tháng 9, 2016 qua phiên bản tiếng Anh trên nền tảng Steam,[22] trong khi phiên bản tiếng Nhật dự kiến phát hành sau đó vào ngày 29 tháng 12 năm 2016.[23] Key cũng đã thông báo những chi tiết đầu tiên về dự án visual novel Summer Pockets.[24]

Key Sounds Label

Bài chi tiết: Key Sounds Label

Năm 2001, Visual Art's thành lập hãng thu âm Key Sounds Label (KSL).[25] Các album nhạc và đĩa đơn do Key phát hành từ đó về sau đều mang nhãn hiệu này, có nghĩa là không tính hai album đầu tiên và một đĩa đơn ra mắt trước khi KSL chính thức thành lập. Album đầu tiên của Key Sounds Label là Humanity..., hầu như không liên quan gì đến các tác phẩm của Key ngoại trừ phiên bản phối lại ca khúc chủ đề mở đầu của AIR. Mọi đĩa nhạc do Key Sounds Label phát hành đều được ghi dấu bởi những nhà soạn nhạc chủ chốt của Key: Maeda Jun, Orito Shinji và trước đây là Togoshi Magome. Một số đĩa gồm những ca khúc hoàn toàn do các ca sĩ cộng tác với Key trình bày độc lập, ví dụ như ba đĩa đơn và một album tổng hợp của Lia và album Love Song của Riya từ Eufonius. Ba drama CD và hai đĩa thu âm web radio cũng được phát hành.[25]

Nhân dịp sinh nhật Key tròn 10 tuổi (1998-2008), công ty đã tổ chức một buổi hòa nhạc gọi là KSL Live World 2008 ~Way to the Little Busters! EX~ vào ngày 10 tháng 5, 2008 ở Tōkyō, Nhật Bản và trình diễn lại vào ngày 17 tháng 5, 2008 ở Osaka, Nhật Bản. Mỗi lần diễn kéo dài hai tiếng rưỡi đồng hồ với những giọng ca tiêu biểu là Lia, Rita, ChataTamiyasu Tomoe, những người đã từng trình bày các album và đĩa đơn do Key Sounds Label phát hành trước đó[26]. Một buổi hòa nhạc khác mang tên KSL Live World 2010 ~Way to the Kud-Wafter~ đã được tổ chức tại Tōkyō từ 21 đến 22 tháng 5 năm 2010, những ca sĩ góp giọng là Suzuki Keiko, Suzuta Miyako, Tada Aoi, Tamiyasu Tomoe, Chata, Marina, Lia, LiSA, Rita và nhóm Eufoniu[27].

Key Net Radio

Bài chi tiết: Key Net Radio

Key bắt đầu sản xuất một chương trình phát thanh trên internet gọi là Key Net Radio (Keyらじ Key Raji?), điều hành bởi chính công ty với buổi phát thanh đầu tiên thực hiện ngày ngày 13 tháng 12, 2007[28]. Những phát thanh viên gồm Orito ShinjiHinoue Itaru của Key, và một người phụ nữ khác tên là Chiro làm việc cho Pekoe, một hãng visual novel khác cũng thuộc Visual Art's[29]. Thính giả có thể gửi những cảm nghĩ và bất cứ đề xuất nào của họ về chương trình, tất cả cùng với các câu hỏi sẽ được đưa lên tổng đài để ba người tổ chức giải đáp[30]. 30 buổi phát thanh đầu tiên luôn có sẵn để tải về từ website chính thức của Key và 9 buổi đầu có thể tải về từ blog chính thức của chương trình[29][31]. Các chương trình đã phát sóng cũng có thể nghe và xem tại kênh YouTube của Visual Art's mang tên Visual Channel[32]. Từ chương trình thứ 30 đến nay chưa có buổi phát thanh mới nào được sản xuất.

Trong sáu buổi phát thanh đầu tiên, chương trình được chia thành năm phần, bắt đầu với những lời chào mừng của phát thanh viên và tiếp nối bằng những cảm nghĩ và ấn tượng đối với chương trình do thính giả gửi đến. Tiếp theo là một đoạn các phát thanh viên đối thoại một cách thân mật với nhau, rồi sau đó các phát thanh viên đọc thư từ các thính giả về sự hăng hái của họ đối với Key. Phần thứ tư là giải đáp những thắc mắc có liên quan do thính giả gửi đến, và cuối cùng là tiết mục thổi sáo của Orito; thính giả có thể gửi ý kiến về những nhạc phẩm của anh[29]. Hai phần nữa đã được thêm vào từ buổi phát sóng thứ bảy. Phần đầu tiên được thêm liên quan đến các chuyện kinh dị mà các phát thanh viên có thể tự kể hay đọc lại từ thư của thính giả, và được thêm một phần cũng vì Hinoue thích các chuyện theo thể loại này. Phần thêm vào tiếp theo là nhiều bản đề nghị của thính giả miêu tả một nhân vật hư cấu mới, và Hinoue sẽ tiếp nhận các ý kiến đó để tạo ra nhân vật mới kết hợp yêu cầu của người hâm mộ. Những bản nhạc nền từ các soundtrack phát hành dưới nhãn Key Sounds Label sẽ được chơi suốt buổi phát sóng.[29]

Tham gia Comiket

Comiket, viết tắt của Comic Market, là một hội nghị truyện tranh có quy mô lớn được tổ chức hai lần một năm tại Tōkyō, Nhật Bản vào tháng 8 và tháng 12 (Comic Market mùa hè và mùa đông). Key đã tích cực tham gia hội nghị từ Comiket 57 diễn ra vào tháng 12 năm 1999, nơi họ rao bán các mặt hàng liên quan đến Kanon (lúc bấy giờ là sản phẩm duy nhất của họ); một trong những sản phẩm này là một chiếc bật lửa Zippo[33]. Các sản phẩm đầu tiên của AIR đã được bán trong Comiket 59 diễn ra vào tháng 12 năm 2000[34]. Những món hàng thường thấy là: bưu thiếp, thẻ điện thoại, lịch, poster và album[34][35][36][37][38]. Mọi sản phẩm mà Key bán tại Comiket đều liên quan đến các visual novel của công ty[34][35][36][37][38]

Key, đại diện cho Visual Art's, thường tham gia Comiket mùa đông cùng với các thương hiệu khác của Visual Art's, nhưng cũng từng xuất hiện tại Comiet mùa hè, chẳng hạn như Comiket 70 diễn ra vào tháng 8 năm 2006, nơi họ bán các mặt hàng liên quan đến planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~[39]. Tổng các sản phẩm mà Key đã bán tại Comiket có giá dao động từ 3.000¥ (khoảng 27$) đến 5.000¥ (khoảng 45$)[35][36][38][40][41][42]. Trong đó bao gồm các album nhạc phát hành dưới nhãn hiệu hãng thu âm Key Sounds Label của Key từ Comiket 60, diễn ra vào tháng 8 năm 2001 với sự ra đời của hai album đầu tiên mang nhãn hiệu này là Humanity... và "Natsukage / Nostalgia". Nếu vẫn còn sản phẩm tồn kho khi Comiket kết thúc, Visual Art's sẽ giải quyết bằng cách sử dụng hệ thống email đặt hàng trực tuyến để bán hết các mặt hàng từ những thương hiệu của họ. Sau Comiket 73 vào tháng 12 năm 2007, Visual Art's bắt đầu nhận đơn đặt hàng qua email từ ngày 4 tháng 3, 2008 và chỉ sáu ngày sau đó vào ngày 10 tháng 3 năm 2008, Key thông báo rằng toàn bộ những món hàng còn dư lại của họ sau Comiket 73 đã được thu mua sạch sẽ[43][44]. Vào cuối ngày thứ hai của Comiket 75 diễn ra vào tháng 12 năm 2008, món hàng cuối cùng của Key trong dịp hội nghị này đã được bán thành công[45].

Nhân viên

Chính thức

Toàn bộ nhân viên chính thức của Key đều làm việc dưới sự điều hành từ công ty mẹ của hãng, Visual Art's. Hầu hết các thành viên chủ chốt đã gia nhập Key ngay từ những ngày đầu tiên thành lập, và họ đã tự xử lý những công việc đầu tiên trong nhiều lĩnh vực do thiếu người. Maeda Jun là người lập kế hoạch phát triển các dự án của cá nhân ông và là nhà biên kịch chính cho nhiều sản phẩm của công ty; ông cũng soạn nhạc cho tất cả trò chơi của Key, ngoại trừ planetarian[46][47][48]. Maeda đã tuyên bố trên tạp chí Comptiq, đăng trong số ra tháng 2 năm 2007, rằng sau khi hoàn tất Little Busters!, ông sẽ không tham gia viết kịch bản cho Key nữa[49]. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 12 cùng năm của tạp chí Dengeki G's Magazine, Maeda cho biết ông vẫn sẽ tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình trong các tựa game tới của Key[50]. Hinoue Itaru là họa sĩ chính và giữ chức chỉ đạo nghệ thuật cho ba trò chơi đầu tiên của Key[51]. Các nhân vật do Hinoue thiết kế được đánh giá là rất moe (dễ thương) và phong cách vẽ của bà được người hâm mộ gọi là "Itaru-e" (いたる絵? có nghĩa là "nét vẽ của Itaru")[52][53][54][55]. Na-Ga, một họa sĩ nổi bật trong công ty, chủ yếu thực hiện khâu đồ họa cảnh nền (CG) đầu tiên cho AIR, đã ngồi lên chiếc ghế đồng chỉ đạo nghệ thuật cùng với Hinoue Itaru trong Little Busters!, EcstasyKud Wafter[8][56]. Bốn nghệ sĩ khác cũng đảm nhận công việc đồ họa vi tính hiện còn cộng tác với Key là Shinory, Mochisuke, Tayama Minimo và Torino[57][58]. Nhạc sĩ chính của Key, Orito Shinji, đã soạn nhạc cho toàn bộ visual novel của công ty[59]. Từ khi Maeda từ bỏ công việc kịch bản, một nhà biên kịch mới là Tonokawa Yūto, gia nhập Key và làm việc trước tiên với Little Busters!, đã được đưa lên vị trí viết kịch bản chính kể từ Rewrite[60][61]. Tonokawa cũng phổ lời cho một số ca khúc của Key[61]. Shimizu Jun'ichi gia nhập Key từ năm 2009 và đứng đầu công việc soạn nhạc cho Kud Wafter[62][63].

Đã từ chức và thuê ngoài

Nhiều nhân viên của Key đã rời khỏi công ty theo thời gian, hoặc là đã có một thời gian ngắn cộng tác với những đóng góp thuê ngoài. Hisaya Naoki là một trong số những nhân viên chính thức ban đầu của Key, ông đã viết phần lớn kịch bản cho Kanon[57], nhưng sau khi dự án này hoàn tất, ông xin từ chức và rời khỏi công ty; Hisaya sau đó nổi danh với tác phẩm Sola vì là người viết kịch bản gốc[64]. Một nhân viên khác trong nhóm phát triển KanonOdiakeS, một nhạc sĩ thuê ngoài đã giúp đỡ Key tạo ra hai album nhạc, một cho AIR và một cho CLANNAD, nhưng đã không còn liên lạc với công ty từ năm 2004[65]. Hai nhân viên khác chỉ cộng tác với Key trong AIR: Ishikawa Takashi là một trong hai nhà biên kịch chính[66], Fujii Kazuki với vai trò trợ lý kịch bản[57]. Din, họa sĩ đồ họa cảnh nền cho KanonAIR, đã từ chức khi dự án AIR hoàn tất và chuyển sang làm cho công ty khác[57]. AIRCLANNAD có sự trợ giúp của Okano Tōya và Kai trong phần kịch bản[57]; sau này chỉ còn Kai quay lại và đứng đầu dự án Kud Wafter trong khâu lập kế hoạch và thiết kế[67]. Một trong những họa sĩ đồ họa vi tính đầu tiên là Miracle Mikipon, đã rời khỏi Key sau CLANNAD[57]. Một nhà biên kịch đáng chú ý khác là Suzumoto Yūichi, cộng tác với Key từ AIR đến planetarian[68]; Suzumoto tiếp tục làm việc cho nhiều thương hiệu khác của Visual Art's cho đến tháng 9 năm 2005, khi ông đệ đơn từ chức và rời khỏi công ty[69]. Komatsu Eeji làm chỉ đạo nghệ thuật cho Key chỉ trong planetarian[70], và một họa sĩ khác, Fumio, chỉ giữ chiếc ghế chỉ đạo nghệ thuật trong Tomoyo After[71]. Kashida Leo là nhà văn thuê ngoài, đóng góp trong Tomoyo AfterLittle Busters![8][72]. Shirokiri Chika, một nhà văn thuê ngoài, tham gia viết kịch bản cho Little Busters![8][72], và sau đó là người viết kịch bản chính trong Kud Wafter[73]. Hai nhà soạn nhạc, Manack và PMMK hỗ trợ phần âm nhạc trong Little Busters!, và MintJam là người hòa âm lại các nhạc phẩm này[8]. Togoshi Magome, tham gia Key kể từ AIR, giữ vai trò là một trong những nhạc sĩ chủ chốt của công ty, nhưng ông đã từ chức vào tháng 10 năm 2006, sau khi kết thúc công việc trong Little Busters![74]. Hai nhà văn thuê ngoài khác đã trợ giúp Key trong khâu kịch bản của RewriteRyukishi07 của nhóm 07th Expansion, và Tanaka Romeo.[60]

Tác động

Lá thẻ bài Lycèe Trading Card Game in hình nhân vật Hoshino Yumemi trong planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~.

Theo tác phẩm A History of Adult Games của Todome Satoshi, Key đã tạo ra nhiều tác động đến thế giới visual novel (mà chủ yếu là biến thể của game người lớn) ngay từ khi công ty còn chưa thành lập và hầu hết các sáng lập viên đang cộng tác với hãng Tactics của Nexton[75]. Chịu ảnh hưởng từ visual novel To Heart của Leaf phát hành năm 1997, những nhân viên của Key tại Tactics đã hình thành nên tên gọi cho một khái niệm mới của trò chơi: mở đầu là những khoảnh khắc lãng mạn nồng ấm xen lẫn hài hước, kế đến là nỗi đau của sự chia cắt và mất mát, cuối cùng là sự tái hợp của những khung bậc cảm xúc; đây gọi là nhánh "crying game" (game khóc) của dòng bishōjo, mà sau này đã giúp tạo ra thể loại Nakigē (泣きゲー?) và phát triển thành một hướng đi mới cho các visual novel đời kế tiếp[75][76][77]. Mục đính chính của dạng trò chơi như vậy là giúp người chơi có mối đồng cảm sâu sắc với các nhân vật và bật khóc vì các tình huống bi kịch, để lại một ấn tượng và tác động lớn đến tâm lý người chơi sau khi họ hoàn thành tác phẩm[75]. Tựa game thứ ba của Tactics là ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ đã được phát triển dựa trên khái niệm này.

Sau khi hoàn thành ONE, nhóm phát triển đã bỏ Tactics và thành lập Key, đó là nơi họ cho ra đời siêu phẩm Kanon, cũng dựa trên khái niệm này[75]. Kanon được "thổi phồng lên nhiều khi quảng cáo [và] có những game thủ đã thiếu kiên nhẫn cho đến ngày nó ra mắt. Nó, cho đến thời điểm này, chỉ là một trò chơi điện tử do Key phát hành, nhưng [nó] đã tạo ra một cơn sóng chấn động đến toàn ngành công nghiệp. Và một trò chơi khác [AIR], hai năm sau đó, thậm chí còn gây chấn động hơn cả. AIR cũng được cường điệu lên và đều được đón nhận như nhau."[52][53][78][79][80][81][82] Kanon là một bước ngoặt lớn của bishōjo game, trái với các tựa game trước luôn chú trọng đến những cảnh quan hệ tình dục, trò chơi này đã giúp người chơi tập trung nhiều hơn vào việc tận hưởng âm nhạc và kịch bản, đồng thời "có được những trải nghiệm mới về một tình cảm trong sáng và sự đau khổ đến nghẹn ngào"[83]. Sự thành công của ONE và nhất là Kanon đã củng có tên gọi "crying game", dần dần khái niệm này được áp dụng cho các visual novel khác của những hãng chịu ảnh hưởng từ Key. Điển hình gồm: Kana ~Little Sister~ của Digital Object, dòng Memories Off của KID, D.C.: Da Capo của Circus, Snow của Studio Mebius (cũng thuộc Visual Art's) và Wind ~A Breath of Heart~ của Minori.[75]

Ryukishi07 của nhóm 07th Expansion đã viết về việc ông chịu ảnh hưởng từ Key như thế nào để áp dụng trong khâu kế hoạch của Higurashi no Naku Koro ni vào năm 2004[84]. Ryukishi07 đã từng chơi các trò chơi của Key, cùng nhiều hãng visual novel khác, nhằm mục đích tham khảo, và phân tích chúng để tìm ra lý do tại sao chúng trở nên nổi tiếng. Ông đã phát hiện ra bí mật đó là cái cách mà kịch bản được tạo dựng để hình thành nên một cốt truyện với phần mở đầu rất bình thường, mỗi ngày lại khám phá ra những chuyện thú vị và mới mẻ, nhưng sau đó bi kịch sẽ bất ngờ xuất hiện khiến người chơi bị sốc và bật khóc. Ông đã dùng mô hình tương tự cho khái niệm cơ bản của Higurashi nhưng thay vì khiến người chơi khóc, Ryukishi07 muốn tạo cảm giác sợ hãi cho họ bằng cách thêm vào các yếu tố kinh dị. Làm như vậy, Ryukishi07 hy vọng trở thành một đối tác với Key, công ty mà ông mô tả là "hãng sản xuất kiệt tác".[84]

Key là một trong mười bảy thương hiệu của Visual Art's tham gia trò chơi Lycèe Trading Card Game do Broccoli sản xuất. Ba trong số bốn bộ thẻ bài đầu tiên của Visual Art's đã in hình các nhân vật từ năm visual novel đầu tiên của Key[85]; từ bộ thứ năm đến thứ bảy có sự góp mặt của các nhân vật trong bốn trò chơi kế tiếp[85]. Những nhân vật trong chuyển thể anime của Kanon, AIRCLANNAD được vinh hạnh có một bộ thẻ bài riêng[85]. Ngoài ra còn có nhiều tấm in hình các nhân vật của Key trong tổng số 728 thẻ bài khuyến mại cực hiếm[86]. Một số hãng visual novel có tên tuổi lớn khác cũng xuất hiện trong các thẻ bài, đó là: AliceSoft, August, Leaf, NavelType-Moon.[87]

Leaf, Key BBS

Một bảng công báo hệ thống (BBS) có giao diện dựa trên diễn đàn internet có tiếng ở Nhật Bản, 2channel (2ch), được thành lập vào ngày 26 tháng 1, 2000 với tên "Leaf, Key BBS" (leaf,key掲示板 leaf,key Keijiban?), hay còn có biệt danh là "Leaf-Key Board" (葉鍵板 Ha-Kagi Ita?)[88][89]. BBS này bắt nguồn từ diễn đàn thảo luận trò chơi điện tử của 2ch do một tranh chấp liên quan đến trò chơi Kizuato vào tháng 12 năm 1999[88]; Kizuato là trò chơi đầu tay của Leaf, một công ty sản xuất visual novel nổi tiếng khác. Cuối cùng, người hâm mộ tựa game này chuyển sang thảo luận tại diễn đàn game người lớn của 2ch, nhưng ở đó sự việc cũng không được giải quyết nhiều hơn, đồng thời người hâm mộ Key trên diễn đàn dần ít quan tâm hơn đến các cuộc thảo luận về Kanon và, tại thời điểm đó, trò chơi sắp tới của công ty là AIR. Kết quả, những fan của Leaf và Key chuyển dần các cuộc thảo luận từ 2ch đến một không gian mới thành lập trên diễn đàn internet PINKchannel[89]. Những hoạt động của diễn đàn này đều thảo luận mọi vấn đề liên quan đến Leaf và Key. Bao gồm cả những sản phẩm sản xuất, về những nhân viên và về cả chính hai công ty này. BBS đạt đến mốc 900 bài đăng vào tháng 3 năm 2010. Giống như 2ch, BBS có một nhóm vô danh đăng bài được thiết lập mặc định với tên "Nanashi-san Dayomon" (名無しさんだよもん?), bắt nguồn từ nhân vật nữ chính Nagamori Mizuka trong ONE ~Kagayaku Kisetsu e~, người thường dùng các từ "dayo" và "mon" khi giao tiếp.[89]

Đọc thêm

Chú thích

  1. ^ a ă â “Jun Maeda Long Interview” [Bài phỏng vấn dài với Maeda Jun]. Key 10th Anniversary Book (bằng tiếng Nhật) (Kadokawa Shoten): tr. 48–60. 2009. 
  2. ^ Tonokawa Yūto (7 tháng 7 năm 2008). 質問の回答日誌 [Nhật ký trả lời câu hỏi] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2008. Lúc đó các nhân viên đã quyết định theo nguyên tắc đa số. (当時のスタッフの多数決で決まったようです。) 
  3. ^ “Kanon | Key Official HomePage” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  4. ^ “AIR | Key Official HomePage” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  5. ^ “CLANNAD | Key Official HomePage” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  6. ^ “planetarian | Key Official HomePage” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  7. ^ 智代アフター| Key Official HomePage [Tomoyo After | Trang nhà chính thức của Key] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  8. ^ a ă â b c リトルバスターズ! 製品内容 [Nội dung sản phẩm Little Busters!] (bằng tiếng Nhật). Key. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012. 
  9. ^ リトルバスターズ!エクスタシーパーフェクトビジュアルブック [Little Busters! Ecstasy Perfect Visual Book] (bằng tiếng Nhật). ASCII Media Works. 19 tháng 12 năm 2008. tr. 1–239. ISBN 978-4-04-867505-5. 
  10. ^ リトルバスターズ!エクスタシー [Little Busters! Ecstasy] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2012. 
  11. ^ Tonokawa Yūto (26 tháng 6 năm 2008). リトルバスターズEX開発日誌 [Nhật ký phát triển Little Busters! EX] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008. 
  12. ^ Key10周年記念イベント 『KEY 10th MEMORIAL FES,』 ~あの日から始まった僕らの時を刻む唄~ 特設ページ [Trang đặc biệt về sự kiện kỷ niệm 10 năm thành lập Key "Key 10th Memorial Fes," ~Ano Hi kara Hajimatta Bokura no Toki o Kizamu Uta~] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008. 
  13. ^ “Key's Angel Beats! Project Gets TV Anime Green-Lit” [Thông báo về dự án Angel Beats! của Key có TV anime] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 27 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  14. ^ スタッフ | Angel Beats! 公式サイト [Nhân viên | Trang web chính thức của Angel Beats!] (bằng tiếng Nhật). Aniplex. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ クドわふたー [Kud Wafter] (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ “Rewrite” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. 
  17. ^ “Rewrite Harvest festa!” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ “Products” [Sản phẩm] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  19. ^ “Outline” [Sơ lược] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2013. 
  20. ^ “Charlotte Anime Gets TV Special on June 20 Before July Series Premiere” [Anime Charlotte có chương trình TV đặc biệt vào ngày 20 tháng 6 trước khi lên sóng tháng 7] (bằng tiếng Nhật). Anime News Network. 13 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  21. ^ Key 15th Fes. 「KSL Live World way to the Angel Beats! 1st」&「AKIBA BASE!!」 (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016. 
  22. ^ “Harmonia Official Website Is Now Open!” [Trang web chính thức của Harmonia đã mở!] (bằng tiếng Anh). Key. 15 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016. 
  23. ^ 「Harmonia」日本語版発売決定!! [Ấn định ngày phát hành phiên bản tiếng Nhật của Harmonia!] (bằng tiếng Nhật). Key. 10 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016. 
  24. ^ Key新作『Summer Pockets』発表! ヒロイン公開&制作陣に独占インタビュー! [Key thông báo dự án mới "Summer Pockets"! Bài phỏng vấn độc quyền với đội ngũ sản xuất và công bố các nữ chính!] (bằng tiếng Nhật). ASCII Media Works. 8 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 
  25. ^ a ă “Key Sounds Label discography” [Danh sách đĩa nhạc của Key Sounds Label] (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2007. 
  26. ^ “Presenting Information on an Event - KSL Concert” (bằng tiếng Nhật). Key. Ngày 14 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2008. 
  27. ^ “KSL Live World 2010 ― way to the Kud-Wafter” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  28. ^ “Key's official blog entry on the radio's first recording” (bằng tiếng Nhật). Key. Ngày 13 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  29. ^ a ă â b “Key Net Radio section at Key's official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  30. ^ “Key Net Radio's submission form” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  31. ^ “Key Net Radio's official blog” (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007. 
  32. ^ “Visual Channel official website” (bằng tiếng Nhật). YouTube. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008. 
  33. ^ “Image of a Kanon Zippo lighter sold originally at Comiket 57”. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  34. ^ a ă â “Key's Comiket 59 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  35. ^ a ă â “Key's Comiket 63 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  36. ^ a ă â “Key's Comiket 71 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  37. ^ a ă “Key's Comiket 73 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  38. ^ a ă â “Key's Comiket 79 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  39. ^ “Key's Comiket 70 products” (bằng tiếng Nhật). Key. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  40. ^ “Brands under Visual Art's that participated at Comiket 65” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  41. ^ “Brands under Visual Art's that participated at Comiket 67” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  42. ^ “Brands under Visual Art's that participated at Comiket 69” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  43. ^ “Comiket 73 Goods Via Mail Order Has Begun” (bằng tiếng Nhật). Key. Ngày 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008. 
  44. ^ “Comiket 73 Goods Sold Out!” (bằng tiếng Nhật). Key. Ngày 10 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008. 
  45. ^ “Comiket 75 Second Day Journal” (bằng tiếng Nhật). Key. Ngày 29 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008. 
  46. ^ Câu thoại gốc: 自分の書いた曲では一番気に入ってます。
    Dịch tiếng Việt: "Trong số những nhạc phẩm do chính tay mình viết, tôi thích một bài ["Zankō"] nhất."
    Kanon Original Soundtrack booklet, tr.4.
  47. ^ “Chudah's Corner on the Kanon Original Soundtrack (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2007. 
  48. ^ “Jun Maeda's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007. 
  49. ^ “Getchu.com's yearly Bishōjo Game Ranking poll results for best overall game titles from 2007” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2008. 
  50. ^ “Jun Maeda and Shinji Orito Interview”. Dengeki G's Magazine (tháng 12 năm 2007) (MediaWorks). 
  51. ^ “Itaru Hinoue's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  52. ^ a ă “エディターレビュー Kanon” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  53. ^ a ă “エディターレビュー AIR” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  54. ^ “エディターレビュー CLANNAD” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  55. ^ “エディターレビュー Little Busters!” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  56. ^ “リトルバスターズ! 製品内容” [Little Busters! Product Details] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  57. ^ a ă â b c d “Key-Tactics staff information” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2008. 
  58. ^ “Sketches of art by Key staff, with staff position listed” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2007. 
  59. ^ “Shinji Orito's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2007. 
  60. ^ a ă “Rewrite:製品情報 Key Official HomePage” [Rewrite: Product Information Key Official HomePage] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010. 
  61. ^ a ă “Tonokawa Yūto's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007. 
  62. ^ “Spec” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2010. 
  63. ^ “Jun'ichi Shimizu's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2010. 
  64. ^ “久弥直樹 関わったゲーム一覧 -ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Naoki Hisaya Games Done at a Glance - ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  65. ^ “OdiakeS' personal website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  66. ^ “Takashi Ishikawa's involvement in Key” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  67. ^ “Kai's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  68. ^ “Yūichi Suzumoto's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  69. ^ “Yūichi Suzumoto's official blog entries for January 2006” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  70. ^ “Key's official Planetarian website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  71. ^ “Tomoyo After staff information” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  72. ^ a ă “Leo Kashida's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  73. ^ “ちかのーと Contact me” [Chika Note Contact me] (bằng tiếng Nhật). Shirokiri Chika. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  74. ^ “Magome Togoshi's official blog announcement of his resignation from Key” (bằng tiếng Nhật). Ngày 10 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  75. ^ a ă â b c Todome Satoshi. “A History of Adult Games, chapter 3”. kyo-kan.net (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  76. ^ “A History of Eroge: Chapter Three - "Crying games" hit the standard” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  77. ^ “Tag: Nakige” (bằng tiếng Anh). The Visual Novel Database. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  78. ^ “Short Key history” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2007. 
  79. ^ “Girl games come of age” (bằng tiếng Anh). Freetype.net. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |acessdate= (trợ giúp)
  80. ^ Jones, Matthew T. (tháng 12 2005). “The Impact of Telepresence on Cultural Transmission through Bishoujo Games”. PsychNology Journal 3 (3): 292–311. ISSN 1720-7525.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  81. ^ Amano Yoshitaka (2008). Ga-netchû! Das Manga-Anime-Syndrom (bằng tiếng Nhật). Berlin: Henschel Verlag. tr. 266. ISBN 978-3-89487-607-4. 
  82. ^ Cavallaro, Dani (2009). Anime and Memory: Aesthetic, Cultural and Thematic Perspectives. McFarland. ISBN 978-0-7864-4112-9. 
  83. ^ Pesimo, Rudyard Contretas (2007). 'Asianizing' Animation in Asia: Digital Content Identity Construction Within the Animation Landscapes of Japan and Thailand” (PDF). Reflections on the Human Condition: Change, Conflict and Modernity - The Work of the 2004/2005 API Fellows. The Nippon Foundation. tr. 124–160. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2010. 
  84. ^ a ă Ryukishi07 (ngày 9 tháng 7 năm 2004). “Key's Essence is Actually...(Bitter Smile)” (bằng tiếng Nhật). 07th Expansion. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2009. 
  85. ^ a ă â “Lycèe Trading Card Game Visual Art's” (bằng tiếng Nhật). Broccoli. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2011. 
  86. ^ “Lycèe Trading Card Game promotional cards” (bằng tiếng Nhật). Broccoli. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  87. ^ “Lycèe Trading Card Game card sets” (bằng tiếng Nhật). Broccoli. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  88. ^ a ă “Chronology of the Leaf, Key BBS” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2007. 
  89. ^ a ă â “Leaf, Key BBS” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2007. 

Liên kết ngoài