Rhinocerus (tác phẩm của Dürer)

Rhinocerus
Dürer rhino full.png
Tác giảAlbrecht Dürer
Thời gian1515
LoạiKhắc gỗ

Rhinocerus (Tê giác) là tên tác phẩm khắc gỗ của họa sĩ, nghệ nhân khắc bản in người Đức Albrecht Dürer sáng tác năm 1515.[1] Tác phẩm này là hình ảnh một con tê giác dựa trên các mô tả từ sách vở và bức phác họa của một họa sĩ vô danh về con tê giác Ấn Độ đã được đưa tới Lisboa vào đầu năm 1515. Đây là con tê giác đầu tiên được đưa tới châu Âu kể từ thời Đế chế La Mã vì vậy bản thân Dürer chưa bao giờ được nhìn thấy một con tê giác thực sự. Vào cuối năm 1515 vua Manuel I của Bồ Đào Nha đã gửi con vật cho Giáo hoàng Leo X làm quà nhưng chiếc tàu chở nó đã bị đắm ngoài khơi Ý đầu năm 1516 và phải chờ đến năm 1579 con tê giác thứ hai mới được mang từ Ấn Độ về châu Âu.[2]

Mặc dù bức tranh có nhiều chi tiết giải phẫu không chính xác về loài tê giác, Rhinocerus vẫn trở nên rất nổi tiếng ở châu Âu và được sao chép lại nhiều lần qua ba thế kỷ sau đó với tư cách một minh họa chính xác về loài tê giác. Mãi đến cuối thế kỷ 18 khi con tê giác Clara được đưa đi trưng bày khắp châu Âu, Rhinocerus mới dần bị thay thế bởi các bức minh họa chân thực hơn. Người ta đã nhận xét về tác phẩm của Dürer như sau: "có lẽ không bức tranh động vật nào có được ảnh hưởng sâu sắc tới nghệ thuật như vậy".[3]

Con tê giác

Cuộc săn tê giác của vua Babur của vương triều Mogul (trước năm 1530), lấy từ trang 127 của Treasures of Natural History (2005), Hội Lịch sử Tự nhiên Mumbai và Oxford University Press, Mumbai.

Ngày 20 tháng 5 năm 1515, một con tê giác được đưa từ Ấn Độ tới cảng Lisboa bằng đường biển. Trước đó vào đầu năm 1514, Afonso de Albuquerque, toàn quyền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha đã gửi các đại sứ tới Sultan Muzafar II, người cai trị vùng Cambay (nay là bang Gujarat, Ấn Độ), để xin phép xây dựng một pháo đài trên hòn đảo Diu. Tuy Muzafar II không chấp nhận đề nghị của de Albuquerque nhưng ông cũng gửi tặng vị toàn quyền một số món quà mang tính ngoại giao, trong đó có một con tê giác.[4] Theo truyền thống thời đó, các quốc gia có thể trao đổi cho nhau các con thú lạ để trưng bày trong vườn thượng uyển, vì vậy con tê giác của Sultan Muzafar II đã được thuần dưỡng để thích nghi với cuộc sống nuôi nhốt. Về phần mình, Alfonso de Albuquerque đã quyết định chuyển con thú, vốn có tên tiếng Gujaratiganda, cùng người chăm sóc nó, Ocem, về Bồ Đào Nha cho vua Manuel I. Con tê giác đã rời Ấn Độ trên con tàu Nossa Senhora da Ajuda của thuyền trưởng Francisco Pereira Coutinho.[5][6]. Nossa Senhora da Ajuda rời cảng Goa tháng 1 năm 1515,[7] vượt qua mũi Hảo Vọng rồi đi về phía Bắc, dừng chân tại Mozambique, Saint HelenaAçores trước khi về tới Lisboa tháng 5 năm 1515. Sau chuyến đi kéo dài 120 ngày (tương đối nhanh so với kỹ thuật hàng hải thời đó), con tê giác được chuyển lên bờ tại địa điểm gần với Tháp Belém đang được xây dựng. Sau này ngọn tháp đã được trang trí với các miệng máng xối có hình đầu tê giác.[8]

Do chưa từng xuất hiện ở châu Âu kể từ thời Đế chế La Mã, tê giác đã gần như trở thành một loài động vật huyền thoại và việc một con tê giác thật được chuyển tới Bồ Đào Nha đã khiến công chúng náo động, theo ngôn ngữ thời Phục Hưng thì nó tương tự việc người ta tìm thấy một bức tượng hay một ghi chép của thời Cổ Đại. Con vật đã được cả giới học giả và những người tò mò soi xét kỹ lưỡng, những bức thư mô tả con tê giác như một tạo vật kỳ diệu được truyền đi khắp châu Âu. Bức minh họa sớm nhất hình ảnh con vật có lẽ là một minh họa thi phẩm của Giovanni Giacomo Penni được in ở Roma ngày 13 tháng 7 năm 1515.[9] Bản sao duy nhất còn lại của tác phẩm này hiện được giữ tại Institución ColombinaSevilla, Tây Ban Nha.

Con thú lạ được nuôi tại vườn thượng uyển của vua Manuel trong Cung điện Ribeira ở Lisboa. Nó được tách khỏi đàn voi và những con thú khác của vua Manuel, vốn được nuôi tại Cung điện Estãos. Vào ngày lễ Thánh 3 tháng 6, vua Manuel quyết định tổ chức một cuộc đấu giữa con tê giác với một con voi con thuộc vườn thú của ông nhằm kiểm tra những ghi chép của Caius Plinius Secundus, học giả thời La Mã, về việc tê giác với voi là hai loài thù địch.[10] Trong khi con tê giác đang chậm rãi tiến về phía đối thủ thì con voi con, vốn chưa quen với đám đông náo động, đã bỏ chạy khỏi sân trước khi cuộc đấu kịp bắt đầu.[11][12]

Bản khắc gỗ của con voi Hanno từ cuốn sách "Philomathes" (Roma, khoảng 1514)

Vua Manuel quyết định gửi con tê giác như một món quà tới Giáo hoàng Leo X để thuyết phục Giáo hoàng đồng ý với quyền sở hữu tuyệt đối các mảnh đất mới được hải quân Bồ Đào Nha khám phá ở vùng Viễn Đông kể từ khi Vasco da Gama tìm ra con đường tới Ấn Độ vòng qua châu Phi năm 1498. Một năm trước đó, Manuel I cũng đã gửi tặng Giáo hoàng một con voi trắng, món quà mà Leo X rất ưng ý và đặt tên là Hanno. Cùng với nhiều món quà quý giá khác như đồ bạc và hương liệu, con tê giác được vòng cổ bằng một dây lụa có trang trí hoa và chuyển lên tàu tháng 12 năm 1515 để bắt đầu chuyến hành trình từ Tejo tới Roma.[13] Đầu năm 1516, hải đoàn đã dừng chân một thời gian ngắn trên hòn đảo ngoài khơi Marseille theo đề nghị chiêm ngưỡng con thú lạ của vua François I của Pháp[14]. Con thú ra mắt vua Pháp ngày 24 tháng 1 năm 1516.

Sau khi trở lại hành trình, con tàu đã bị đắm trong một cơn bão bất ngờ khi nó vượt qua eo biển Porto Venere ở phía Bắc La Spezia. Bị xích chặt vào tàu, con tê giác, vốn là loài thú bơi rất giỏi, đã chết đuối. Xác của nó được tìm thấy ở gần Villefranche-sur-Mer và được chuyển về Lisboa để nhồi. Vài ghi chép nói rằng con thú nhồi được đưa tới Roma tháng 2 năm 1516 để triển lãm, tuy nhiên nó không thể gây được dư luận như với sự kiện con thú còn sống ở Lisboa và chỉ được nhớ tới qua một số tác phẩm của Giovanni da UdineRaffaello.[15][16] Nếu như đúng là con thú nhồi bông đã được đưa tới Ý thì số phận sau này của nó là không rõ ràng, có thể nó được nhà Medici chuyển về Firenze hoặc bị phá hủy trong cuộc Cướp phá Roma năm 1527. Đây là chi tiết đã được Lawrence Norfolk sử dụng cho cuốn tiểu thuyết ông viết năm 1996 The Pope's Rhinoceros (Con tê giác của Giáo hoàng).[17]

Bản khắc của Dürer

Tranh bút mực về con tê giác, Albrecht Dürer, 1515, British Museum. Phần ghi chép bị nhầm khi ghi con tê giác tới Lisboa năm "1513".[18]

Valentim Fernandes, một lái buôn và thợ khắc bản in người Moravia, sau khi nhìn thấy con tê giác ở Lisboa đã mô tả nó trong bức thư gửi cho người bạn của ông ở Nürnberg tháng 6 năm 1515. Một bản sao của bức thư bằng tiếng Ý hiện vẫn còn được giữ tại thư viện Biblioteca Nazionale Centrale FirenzeFirenze.[19] Một bức thư không rõ tác giả cũng được gửi từ Lisboa tới Nürnberg cùng thời điểm, đi kèm là phác họa con tê giác của một họa sĩ vô danh. Sau khi đọc bức thư và xem phác họa, Dürer, mặc dù chưa từng nhìn thấy tê giác sống, đã vẽ hai bức họa bằng bút mực về con tê giác, một bức sau này thuộc bộ sưu tập của Hans Sloane còn một bức nằm tại British Museum. Bản khắc Rhinocerus được thực hiện dựa trên bức họa thứ hai.[20]

Phần ghi chép trên bản khắc bằng tiếng Đức, phần lớn dựa trên tác phẩm của Caius Plinius Secundus[10] như sau:

Thực ra bản khắc của Dürer không hoàn toàn chính xác với giải phẫu học của một con tê giác Ấn Độ. Dürer mô tả con vật với các lớp vảy sừng cứng bao phủ khắp cơ thể như một bộ "giáp", cùng một vòng cứng nơi cổ, một phần giáp ngực trông có vẻ chắc chắn và các mấu như đinh tán dọc theo đường nối của các lớp giáp. Dürer cũng "đặt" thêm một sừng xoắn nhỏ trên lưng con vật, tạo cho con tê giác bốn chân có vẩy và phần sau hông có dạng như lưỡi cưa. Các đặc điểm này không hề có trên một con tê giác thực sự.[24][25] Có lẽ một bộ giáp thật đã được vua Manuel I làm cho con tê giác trong cuộc đấu của nó với con voi tại Lisboa, và minh họa của Dürer đã mô tả cả những phần giáp thật này.[26] Theo một cách khác thì "bộ giáp" của Dürer có lẽ để mô tả các phần vảy sừng dày của tê giác Ấn Độ hoặc chỉ đơn giản là sự hiểu lầm hay phóng tác của chính tác giả.[27] Dürer còn vẽ cho con tê giác một lớp da dạng vảy cá, có lẽ ông muốn mô tả lớp da gần như không có lông của loài tê giác Ấn Độ, vốn có những mấu da dạng mụn cóc bao bọc hai chân trước và phần vai. Mặt khác, phần mô tả da của Dürer có lẽ còn đề cập tới bệnh viêm da ở con tê giác vốn bị nuôi nhốt suốt 4 tháng trên hải trình từ Ấn Độ về Bồ Đào Nha.[28]

Cùng thời điểm với Dürer, một bản khắc thứ hai được Hans Burgkmair thực hiện ở Augsburg. Burgkmair vốn có quan hệ với các lái buôn ở Lisboa và Nürnberg, nhưng không rõ liệu ông có được tiếp xúc với các bức thư và phác họa như Dürer không.[29] Minh họa của Burgkmair có vẻ chân thực hơn so với tác phẩm của Dürer, bức vẽ còn có cả phần xiềng xích của con tê giác.[29] Tuy vậy, bản khắc của Dürer vẫn có tiếng vang lớn hơn và trở nên phổ biến vượt trội so với bản khắc của Burgkmair. Cho đến nay chỉ còn duy nhất một bản sao của Burgkmair (lưu giữ tại bảo tàng Graphische Sammlung Albertina, Wien) trong khi tác phẩm của Dürer đã được sao đi sao lại rất nhiều lần. Bản khắc gốc của Dürer năm 1515 được phân biệt bởi chỉ có 5 hàng chữ chú thích phía trên[5], các bản sao sau khi Dürer qua đời năm 1528, gồm 2 bản thực hiện vào thập niên 1540, hai bản khác thực hiện cuối thế kỷ 16[30] đều có 6 hàng chữ chú thích.[5] Bản khắc gốc sau này còn được sử dụng nhiều lần, kể cả khi nó đã bị ăn mọt nhiều lỗ và có một vết nứt ở phần chân của con tê giác.[31]

Indian Rhino (Rhinoceros unicornis)1 - Relic38.jpg Nashorn.2.jpg Kandel Rhinzeros.jpg Burgkmair.png
Phần vảy sừng trên da một con tê giác Ấn Độ thật. Bản in đầu tiên về con tê giác có lẽ xuất phát từ một bản khắc gỗ thô để minh họa cho bài thơ của Giovanni Giacomo Penni xuất bản ở Roma tháng 7 năm 1515. (Biblioteca Colombina, Sevilla). Bản sao Rhinocerus do David Kandel thực hiện cho tác phẩm Cosmographia của Sebastian Münster. Tranh bút mực về con tê giác, Hans Burgkmair, 1515, nay được lưu giữ tại bảo tàng Graphische Sammlung Albertina, Wien.

Mặc dù có nhiều lỗi về giải phẫu học, bản khắc của Dürer vẫn nổi tiếng và được coi là một minh họa chính xác về loài tê giác cho tới cuối thế kỷ 18.[25] Các hình vẽ bắt nguồn từ bản khắc này xuất hiện trong nhiều văn bản về tự nhiên học, bao gồm Cosmographiae của Sebastian Münster (1544), Historiae Animalium của Conrad Gessner (1551), Histoire of Foure-footed Beastes của Edward Topsell (1607) và rất nhiều tác phẩm khác. Hình ảnh con tê giác dựa trên bản khắc của Dürer cũng được Alessandro de' Medici chọn làm huy hiệu của ông vào tháng 6 năm 1536 với dòng khẩu hiệu "Non buelvo sin vencer" ("Không trở về nếu không chiến thắng").[32] Một tác phẩm điêu khắc dựa trên Rhinocerus cũng được Jean Goujon thực hiện ở Paris năm 1549 để chào mừng sự kiện lên ngôi của Henri II của Pháp.[33] Con tê giác cũng xuất hiện trong nhiều tác phẩm hội họa và điêu khắc khác, nó đặc biệt phổ biến thông qua các bức tượng tê giác bằng sứ. Sự nổi tiếng của Rhinocerus vẫn tiếp tục ngay cả khi một con tê giác Ấn Độ thật được đưa tới triển lãm ở Madrid trong suốt 8 năm từ 1579 tới 1587.

Vị trí của Rhinocerus bắt đầu lung lay từ cuối thế kỷ 18 sau khi nhiều con tê giác sống được đưa về triển lãm tại châu Âu, giúp công chúng có được cái nhìn chân thực hơn về loài vật này. Năm 1749, Jean-Baptiste Oudry đã vẽ một bức chân dung khổ thật của con tê giác Clara, George Stubbs cũng vẽ một bức tranh chân dung tê giác lớn ở Luân Đôn khoảng năm 1790. Cả hai tác phẩm đều có độ chính xác cao hơn bản khắc của Dürer và dần đẩy Rhinocerus khỏi vai trò minh họa cho loài tê giác. Bức tranh của Oudry đã được Georges-Louis Leclerc de Buffon sử dụng để minh họa cho bộ bách khoa nổi tiếng Histoire naturelle.[34] Năm 1790, trong buổi nói chuyện về chuyến thám hiểm đầu nguồn sông Nile, James Bruce đã phê phán Rhinocerus "mô tả đặc biệt sai lầm ở mọi phần" và "là nguồn gốc cho hình dáng quái vật của loài thú này". Mặc dù minh họa loài tê giác trắng ở châu Phi của Bruce có nhiều khác biệt so với tê giác Ấn Độ nhưng nó vẫn cho thấy những đặc điểm khác biệt lớn so với Rhinocerus của Dürer.[35] Tuy vậy cho đến cuối những năm 1930, bản khắc của Dürer vẫn còn xuất hiện trong sách giáo khoa như là minh họa chân thực cho loài tê giác.[3] Trong tiếng Đức, tê giác Ấn Độ cho đến nay vẫn được gọi là Panzernashorn hay "tê giác có giáp". Về mặt nghệ thuật, Rhinocerus tiếp tục có ảnh hưởng đến nghệ thuật hiện đại, một ví dụ điển hình là tác phẩm điêu khắc nổi tiếng Rinoceronte vestido con puntillas do Salvador Dalí sáng tác năm 1956.

Hình ảnh

Nashorn.medici.jpg Meissen-Porcelain-Rhinoceros.JPG Raffael.rhino.jpg Dalí.Rinoceronte.JPG
Huy hiệu của Alessandro de' Medici, từ tác phẩm của Paolo Giovio, Dialogo dell'impresse militari et amorosi. Tượng sứ con tê giác tại bảo tàng đồ sứ ở Meissen, dựa trên bức điêu khắc của Johann Gottlieb Kirchner thực hiện khoảng năm 1730.[36] Đấng Tạo hóa của muôn loài của Raffaello, 1518–1519. Một con tê giác xuất hiện ở bên phải cái cây, cùng với một con voi - có thể là con Hanno - ở bên trái. Rinoceronte vestido con puntillas (1956) của Salvador Dalí.

Chú thích

  1. ^ Một vài nguồn cho rằng tác phẩm ra đời năm 1513 nhưng thực ra đó là lỗi ấn bản của Dürer trong một số bức tranh gốc. (Bedini, tr.121.)
  2. ^ Clarke, ch.2
  3. ^ a ă Clarke, tr.20.
  4. ^ Bedini, tr.112.
  5. ^ a ă â História do famoso rhinocerus de Albrecht Dürer, Projecto Lambe-Lambe (tiếng Bồ Đào Nha).
  6. ^ Clarke, tr.16.
  7. ^ Bedini, tr.113.
  8. ^ xem ảnh miệng máng xối tại Clarke, tr.19
  9. ^ Giovanni Giacomo Penni, Forma e natura e costumi de lo rinocerote (...). Xem Ugo Serani, Etiopicas 2 (2006) ISSN 1698-689X [1] cho văn bản gốc tiếng Ý và bản dịch tiếng Tây Ban Nha.
  10. ^ a ă Bản gốc tiếng Latinhbản dịch tiếng Anh của ch. 29, quyển VIII Naturalis Historia.
  11. ^ Bedini, tr.118.
  12. ^ Albrecht Dürer, The Rhinoceros, từ British Museum.
  13. ^ Bedini, tr.127.
  14. ^ Bedini, tr.128.
  15. ^ Bedini, tr.132.
  16. ^ Gessner's Hyena and the Telephone Game, Manda Clair Jost, 2002 (PDF, 21 trang).
  17. ^ Tiểu sử của Lawrence Norfolk từ British Arts Council; Lawrence Norfolk, 1996, The Pope's Rhinoceros: A Novel, Harmony, ISBN 0-517-59532-X.
  18. ^ Clarke, tr.181.
  19. ^ Bedini, tr.120
  20. ^ Người tham gia khắc Rhinocerus, theo Quammen, tr.204, có lẽ là một nghê nhân có tên Formschneyder, Dürer là người giám sát cả quá trình.
  21. ^ Bedini, tr.121; vài người dịch Krot là "cóc", nhưng Schildkrot gần nhất với con rùa.
  22. ^ tiếng Anh: On the first of May in the year 1513 AD [sic], the powerful King of Portugal, Manuel of Lisbon, brought such a living animal from India, called the rhinoceros. This is an accurate representation. It is the colour of a speckled tortoise, and is almost entirely covered with thick scales. It is the size of an elephant but has shorter legs and is almost invulnerable. It has a strong pointed horn on the tip of its nose, which it sharpens on stones. It is the mortal enemy of the elephant. The elephant is afraid of the rhinoceros, for, when they meet, the rhinoceros charges with its head between its front legs and rips open the elephant's stomach, against which the elephant is unable to defend itself. The rhinoceros is so well-armed that the elephant cannot harm it. It is said that the rhinoceros is fast, impetuous and cunning.
  23. ^ Dịch thô từ nguyên bản tiếng Đức. Xem thêm bản dịch tiếng Pháp La licorne et le rhinocéros, chương 3.2, illustration 10, tháng 9, 1996. (tiếng Pháp); và bản dịch tại Clarke, tr.20.
  24. ^ Group of History and Theory of Science - Dürer's Rhinoceros, Đại học Quốc gia Campinas, Brasil.
  25. ^ a ă Dürer's Rhinoceros, Kallisti Digital Publishing, 7 tháng 3, 2003.
  26. ^ Glynis Ridley (2004), Clara's Grand Tour: Travels with a Rhinoceros in Eighteenth-century Europe, Atlantic Monthly Press, ISBN 1-84354-010-X. Tuy nhiên trong Bedini không nhắc tới việc này.
  27. ^ Dürer sống ngay gần xưởng sản xuất vũ khí Schmeidegasse ở Nürnberg, ông cũng thiết kế giáp vào cùng thời điểm đó, các chi tiết này có thể cũng ảnh hưởng tới bản khắc Rhinocerus. Clarke, tr.20.
  28. ^ Bình luận lấy từ Conrad Gessner, Mammals, folio 131 verso, từ Humanities Media Interaction Project, Đại học Keio, Nhật Bản.
  29. ^ a ă Bedini, tr.121.
  30. ^ Clarke, tr.23.
  31. ^ Quammen, tr.206.
  32. ^ Bedini, tr.192.
  33. ^ Bedini, tr.193.
  34. ^ Clarke, tr.64.
  35. ^ Alperson, Philip A (1992). The Philosophy of the Visual Arts. Oxford University Press US. tr. 80. ISBN 0-19-505975-1. 
  36. ^ Rhinocéros (1730) của bảo tàng sứ quốc gia Johann Gottlieb Kirchner, Sèvres

Tham khảo

  • Bedini, Silvano A. (1997). The Pope's Elephant. Manchester: Carcanet Press. ISBN 1-85754-277-0.  (Xem cụ thể chương 5, "The Ill-Fated Rhinoceros")
  • Clarke, T. H. (1986). The Rhinoceros from Dürer to Stubbs: 1515–1799. London: Sotheby's Publications. ISBN 0-85667-322-6.  (Xem cụ thể chương 1, "The first Lisbon or 'Dürer Rhinoceros' of 1515")
  • Quammen, David (2000). The Boilerplate Rhino: Nature in the Eye of the Beholder. Scribner. ISBN 0684837285.  (Xem cụ thể từ trang 201-209: "The Boilerplate Rhino")

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA Bản mẫu:Link FA